4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu hơn 2,6 tỷ USD ngô, lúa mì, đậu tương
Do nhu cầu nguyên liệu cho chăn nuôi, chế biến thực phẩm ngày càng lớn, Việt Nam chi hơn 2,6 tỷ USD nhập khẩu ngô, lúa mì và đậu tương, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 4 tháng đầu năm nay, Việt Nam nhập gần 4 triệu tấn lúa mì, trị giá hơn 1 tỷ USD, tăng lần lượt 66% về lượng và 60% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

Ngô cũng được nhập khẩu với khối lượng lớn, đạt 4,4 triệu tấn, trị giá hơn 1,1 tỷ USD, tăng 49% về lượng và 43% về giá trị. Trong khi đó, nhập khẩu đậu tương đạt 1,1 triệu tấn, trị giá 542 triệu USD, tăng lần lượt 61% và 70%.
Dù lượng nhập khẩu tăng mạnh, giá nhiều loại ngũ cốc trên thị trường thế giới vẫn thấp hơn cùng kỳ năm ngoái. Giá nhập khẩu bình quân lúa mì 4 tháng đầu năm đạt khoảng 255,4 USD một tấn, giảm 3,7%, còn ngô giảm 3,6%, xuống 248,8 USD một tấn. Riêng đậu tương tăng 5,2%, lên 475,9 USD một tấn.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), nguồn cung ngô và đậu tương toàn cầu niên vụ 2025-2026 vẫn ở mức cao nhờ sản lượng lớn từ Brazil và Mỹ. Điều này giúp giá ngũ cốc duy trì ở vùng thấp, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tăng nhập khẩu và dự trữ nguyên liệu.
Brazil và Argentina hiện là hai nguồn cung ngô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm gần 80% thị phần. Với đậu tương, Mỹ và Brazil chiếm gần 90% giá trị nhập khẩu. Trong khi đó, Australia, Brazil và Canada là những thị trường cung cấp lúa mì chủ lực.
Việc duy trì chi tiêu hàng tỷ USD cho các mặt hàng nông sản cơ bản cho thấy sự phụ thuộc lớn của ngành chăn nuôi Việt Nam vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Theo các chuyên gia kinh tế, mặc dù giá nông sản thế giới hiện đã bớt căng thẳng hơn so với giai đoạn trước, nhưng các doanh nghiệp nội địa vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức về chi phí logistics và sự biến động của tỷ giá hối đoái.
Trước tình hình này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm nguồn cung thay thế trong nước, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại một số địa phương nhằm giảm dần sự lệ thuộc vào thị trường quốc tế, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định sản xuất chăn nuôi bền vững.
An Mai (t/h)
Từ sản xuất xanh đến kinh tế nông nghiệp xanhTrong bối cảnh thị trường ngày càng coi trọng tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và sản xuất phát thải thấp, phát triển nông nghiệp xanh không còn là lựa chọn mang tính xu hướng mà đang trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị, sức cạnh tranh và khả năng thích ứng của nông nghiệp Thanh Hóa. Quan trọng hơn, chuyển đổi xanh phải tạo ra giá trị thực, đưa người nông dân từ vị trí thực hiện sang chủ thể và người hưởng lợi.