7 tháng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 42,8 tỷ USD
7 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với tốc độ tăng 6,7% trong 6 tháng đầu năm.
Sáng 3/8, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 7 ước đạt 6,67 tỷ USD, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 7 tháng năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong cơ cấu xuất khẩu 7 tháng đầu năm, nông sản đạt gần 22,2 tỷ USD (tăng 2,4%); thủy sản đạt 6,85 tỷ USD (tăng 12,7%); lâm sản đạt 10,96 tỷ USD (tăng 5,8%); sản phẩm chăn nuôi đạt 455 triệu USD (tăng 33,2%); đầu vào sản xuất đạt 2,32 tỷ USD (tăng 71,1%); muối đạt 8,8 triệu USD (tăng 40,2%).
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam với thị phần chiếm 45,2%. Thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 21,4% và 13,8%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương chiếm lần lượt 2,3% và 1,4%.
So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam 7 tháng sang khu vực châu Á tăng 13,2%; châu Âu tăng 1,8%; châu Đại Dương tăng 18,7%; trong khi châu Mỹ giảm 0,5%; châu Phi giảm 20,4%.

Ảnh minh họa: Internet
Trung Quốc tiếp tục là đối tác xuất khẩu lớn nhất với thị phần 21,9%, tiếp đến là Hoa Kỳ (19%) và Nhật Bản (6,8%). Đây là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc tăng 24,4%, Nhật Bản tăng 3,9%, trong khi Hoa Kỳ giảm 1,6%.
Ở các ngành hàng chủ lực, rau quả ghi nhận mức tăng cao với kim ngạch 4,83 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ. Thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 10,2 tỷ USD, tăng 5,5%; hạt tiêu đạt 1,09 tỷ USD, tăng 10,6%; hạt điều đạt 2,91 tỷ USD, tăng 3,7%.
Một số mặt hàng ghi nhận giảm về giá trị xuất khẩu dù sản lượng tăng hoặc ổn định. Cà phê đạt 5,45 tỷ USD, giảm 11,2% do giá xuất khẩu bình quân giảm 19,9%. Gạo đạt 2,64 tỷ USD, giảm 6,7%, trong khi khối lượng xuất khẩu tăng 0,5%. Cao su đạt 1,55 tỷ USD, giảm 4,5%; chè đạt 119 triệu USD, giảm 1,5%; sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 755,4 triệu USD, giảm 0,2%.
Về nhập khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đang có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại khi 7 tháng ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, với tổng kim ngạch ước đạt 31,13 tỷ USD.
Hoa Kỳ, Trung Quốc và Campuchia là 3 thị trường cung cấp các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 10,3%, 9,8% và 8%.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tại Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026, Chính phủ đã nâng mục tiêu tăng trưởng cả năm của khu vực nông, lâm, thủy sản từ 3,7% lên 4%. Để đạt mục tiêu này, khu vực nông, lâm, thủy sản trong 6 tháng cuối năm cần tăng trưởng khoảng 4,3%, thay cho mức 3,75% theo kịch bản trước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả năm 2026 đạt 74 tỷ USD. Sau 7 tháng đạt gần 42,8 tỷ USD, toàn ngành cần xuất khẩu thêm khoảng 31,2 tỷ USD trong 5 tháng còn lại.
Với mục tiêu đã đặt ra, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm, gồm: hoàn thiện thể chế; triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng và xuất khẩu; đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, chủ động ứng phó thiên tai; thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng hành cùng địa phương và doanh nghiệp, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển.
Huyền My (t/h)
Việt Nam thuộc Top 5 điểm đến cho khách du lịch một mìnhViệt Nam xếp vị trí thứ 5 trong danh sách 25 điểm đến lý tưởng nhất cho du lịch một mình nhờ sự an toàn, lòng hiếu khách cũng như cảnh quan thiên nhiên và ẩm thực độc đáo.