An ninh nguồn nước là thách thức sống còn của ĐBSCL
Nhân Ngày nước thế giới, ngày 22/3, báo Tiền Phong cùng UBND TP. Cần Thơ và đơn vị đồng hành - Tập đoàn Keppel tổ chức Hội thảo An ninh nguồn nước ĐBSCL trước biến đổi khí hậu. Hội thảo sẽ là diễn đàn để các bộ ngành, chuyên gia, địa phương và doanh nghiệp cùng thảo luận, chia sẻ các giải pháp, kinh nghiệm trong thích ứng với hạn, mặn, sạt lở và an ninh nguồn nước, hướng tới phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra mạnh mẽ.

Quang cảnh Hội thảo An ninh nguồn nước ĐBSCL trước biến đổi khí hậu
Tham dự Hội thảo có sự tham dự, cho ý kiến của các đại biểu, khách mời: ông Vũ Viết Hưng - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thuỷ lợi, Bộ NN&MT; ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT; PGS. TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam; ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở NN&MT TP. Cần Thơ; ông Văn Hữu Huệ - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Vĩnh Long; ông Phạm Văn Mười - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Cà Mau; ông Nguyễn Văn Bền - Phó GĐ Sở Tài chính TP. Cần Thơ; ông Nguyễn Minh Tuấn - Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL TP. Cần Thơ; ông Nguyễn Đăng Khoa - Phó GĐ Sở Xây dựng TP. Cần Thơ; NGƯT-PGS-TS. Đào Duy Huân - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ; PGS.TS Lê Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường - Đại học Cần Thơ, Cố vấn Khoa học Viện Mekong; ông Louis Lim - Giám Đốc Điều Hành Khối Bất Động Sản, Tập đoàn Keppel; ông Joseph Low - Chủ tịch Keppel Việt Nam. Cùng đại diện các sở, ngành, chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực tài nguyên nước, đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh trên địa bàn ĐBSCL.
Báo động tình trạng xâm nhập mặn, gây áp lực lớn lên nguồn nước
Cách đây khoảng 25-30 năm, dòng sông Hậu khi chảy qua Cần Thơ mang theo lượng phù sa dồi dào. Vào mùa nước nổi, đặc biệt từ khoảng tháng 7 trở đi, nước có màu đỏ đậm, thường được người dân gọi là "nước son", lượng phù sa rất lớn đổ về ĐBSCL. Nguồn phù sa này không chỉ bồi đắp đất đai mà còn mang theo nguồn lợi thủy sản tự nhiên phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho cả nuôi trồng lẫn đánh bắt.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng xây dựng đập ở thượng nguồn cùng với tác động của biến đổi khí hậu đã làm thay đổi đáng kể dòng chảy và nguồn nước. Lượng phù sa giảm mạnh, kéo theo nhiều hệ lụy. Đối với những người nuôi cá bè, nguồn cá tự nhiên gần như không còn xuất hiện như trước. Trước đây, trong dòng nước còn nhiều sinh vật tự nhiên, cá nuôi có thêm nguồn thức ăn bổ sung, giúp giảm chi phí. Nay dòng sông không còn nguồn lợi tự nhiên, khiến chi phí nuôi tăng lên đáng kể.

Xâm nhập mặn tác động đến nguồn nước sinh hoạt của người dân ĐBSCL
Trong giai đoạn từ năm 2001-2025, dung tích trữ nước đã có sự thay đổi đáng kể, từ khoảng 15 tỷ m³ lên 65-73 tỷ m³, và theo quy hoạch có thể đạt tới 110,4 tỷ m³. Tuy nhiên, song song với đó là sự gia tăng diện tích sản xuất nông nghiệp trong toàn lưu vực. Dự báo đến năm 2040, tổng diện tích này có thể tăng thêm 16%, đạt gần 6,7 triệu ha. Riêng tại Campuchia và Lào, diện tích nông nghiệp cũng gia tăng đáng kể, gây áp lực lớn lên nguồn nước.
Trước kia thời gian nuôi cá chỉ khoảng 6 tháng là có thể thu hoạch, với giá thành khoảng 40.000 đồng/kg. Hiện nay, chi phí nuôi đã tăng lên mức 60.000-70.000 đồng/kg do phải phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn công nghiệp và các chi phí phát sinh khác. Bên cạnh đó, tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi cá. Nước mặn xâm nhập sâu làm thay đổi môi trường sống, khiến nhiều loại cá nước ngọt khó thích nghi, thậm chí bị chết nếu không kịp thời xử lý.
Không chỉ ảnh hưởng đến con giống, xâm nhập mặn còn tác động đến cơ sở vật chất phục vụ nuôi trồng. Trước đây, bè nuôi có thể sử dụng khoảng 5 năm mà không hư hỏng đáng kể, nhưng hiện nay chỉ sau khoảng 3 năm đã xuống cấp do nước mặn gây ăn mòn, làm mục vật liệu, kéo theo chi phí sửa chữa, thay thế tăng cao.
Người dân trồng cây ăn trái hoặc canh tác lúa đều chịu ảnh hưởng từ việc suy giảm phù sa. Đất đai không còn được bồi đắp tự nhiên như trước, buộc người dân phải tăng cường sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để duy trì năng suất. Điều này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước khi các hóa chất này bị rửa trôi ra sông…

Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong phát biểu khai mạc Hội thảo
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong cho biết, một nghịch lý đang hiện hữu ngay tại vùng đất trù phú bậc nhất cả nước - ĐBSCL: Giữa mạng lưới sông ngòi dày đặc vùng sông nước, người dân lại đang thiếu nước ngọt để sinh hoạt và sản xuất.
Những can nước phải chắt chiu trong mùa khô, những cánh đồng mới đầu mùa khô đã nứt nẻ, những vườn cây héo úa không còn là hình ảnh cá biệt, mà đang trở thành thực tế lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua tại vùng đất này. Đó không chỉ là câu chuyện của thiên nhiên. Đó là lời cảnh báo về an ninh nguồn nước, một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của ĐBSCL hôm nay và trong tương lai.
Những năm gần đây, ĐBSCL đang phải đối diện với những biến động chưa từng có. Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc vào dòng chảy thượng nguồn. Trong khi đó, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm trữ lượng và sụt lún đất. Vấn đề xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ mà ngày càng tiến sâu, kéo dài và khó dự báo.

Các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày tại Hội thảo
Có những nơi, nước mặn đã vào tới từng con kênh nội đồng. Có những thời điểm, ngay cả nước sinh hoạt cũng bị ảnh hưởng. Người dân phải nhờ vào từng chuyến sà lan chở nước về để sử dụng. Không chỉ vậy, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng với sự suy giảm phù sa đang làm thay đổi cấu trúc tự nhiên của cả vùng. Đồng bằng không chỉ thiếu nước, mà còn đang mất đi những điều kiện nền tảng để tự phục hồi. Tất cả những yếu tố đó đã tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu người dân, đến sản xuất nông nghiệp, đến môi trường và cả cấu trúc kinh tế - xã hội của vùng.
Hội thảo không chỉ nhằm đánh giá thực trạng, mà còn hướng tới mục tiêu cao hơn, đó là tạo ra một diễn đàn kết nối, nơi các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân cùng ngồi lại để tìm lời giải cho bài toán an ninh nguồn nước của cả vùng. Với vai trò là cơ quan báo chí, Báo Tiền Phong không chỉ phản ánh thực trạng mà còn mong muốn góp phần thúc đẩy đối thoại chính sách, lan tỏa nhận thức xã hội và kết nối các nguồn lực cho phát triển bền vững.

Ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở NN&MT Cần Thơ phát biểu tại hội thảo
Chia sẻ tại Hội thảo, ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ cho biết, ĐBSCL những năm gần đây, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô diễn ra ngày càng thường xuyên, đặc biệt tại các khu vực ven biển và cửa sông. TP Cần Thơ - trung tâm của vùng, mặc dù có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc và nguồn nước tương đối dồi dào, nhưng đang chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu.
Các hiện tượng như ngập úng do triều cường, hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô diễn ra ngày càng phổ biến. Tình trạng sạt lở bờ sông, sụt lún đất cũng gia tăng, trong bối cảnh nhu cầu khai thác và sử dụng nước ngày càng lớn. Những thách thức này đang tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội bền vững của thành phố và toàn vùng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải quản lý và sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
ĐBSCL phụ thuộc mạnh vào nguồn nước từ sông Mekong

Ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT tham luận tại Hội thảo
Theo ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc từ nước ngoài và phân bố không đều theo không gian và thời gian. Thực trạng này thể hiện rõ nét tại ĐBSCL - lưu vực sông liên quốc gia. Tổng lượng nước trung bình năm của lưu vực sông Cửu Long khoảng 488 tỷ m³, trong đó nước mặt chiếm 97%, nước dưới đất chiếm 3%. Tuy nhiên, vào mùa khô, lượng nước bình quân đầu người chỉ khoảng 2.200 m³/người, cho thấy nguy cơ thiếu nước ngày càng hiện hữu.
Dòng chảy từ thượng nguồn về ĐBSCL có xu hướng suy giảm rõ rệt, giảm so với mức trung bình nhiều năm khoảng 13%, riêng mùa khô 2015-2016 giảm 36%, giai đoạn 20190-2020 giảm 28%. Trong khi đó, thủy triều có xu thế gia tăng, trung bình tăng khoảng 12 cm trong 25 năm, kéo theo triều cường tăng thêm 20-25 cm. Xâm nhập mặn vì thế có xu hướng đến sớm hơn và mạnh hơn, với ranh mặn 4‰ xâm nhập sâu 70-85 km trên sông Tiền, sông Hậu.
Áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng. Tổng lượng nước khai thác toàn vùng đạt khoảng 32,25 tỷ m³/năm, trong đó: nước cho nông nghiệp và thủy sản là 31,54 tỷ m³/năm, còn sinh hoạt 0,57 tỷ m³/năm, công nghiệp 0,13 tỷ m³/năm. Song song, gia tăng hoạt động xả nước thải, nhất là nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn đang gây sức ép nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nước.

Cống âu Nguyễn Tấn Thành là cống ngăn mặn, trữ ngọt lớn và quy mô lớn thứ 2 tại vùng ĐBSCL, chỉ sau cống Cái Lớn - Cái Bé.
Ông Nguyễn Minh Khuyến đánh giá, ĐBSCL phụ thuộc mạnh vào nguồn nước từ sông Mekong, chiếm 95% tổng lượng nước của ĐBSCL. Trong khi đó, thượng nguồn đã hình thành và vận hành 12 công trình thủy điện, khu vực Lào, Campuchia có 11 dự án trên dòng chính, Thái Lan triển khai các dự án chuyển nước với quy mô khoảng 6,2 tỷ m³/năm, cùng với 6,5 tỷ m³/năm từ dòng chính và 2,5 tỷ m³/năm từ dòng nhánh.
Mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước gia tăng trở thành thách thức lớn. Chỉ số an ninh nguồn nước quốc gia hiện mới đạt 2/5, trong khi quản trị tài nguyên nước chưa dựa trên nền tảng công nghệ số và đầu tư còn hạn chế.
Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu xuyên suốt là đảm bảo an ninh nguồn nước, trong đó có vùng ĐBSCL. Định hướng lớn là tối ưu hóa nguồn nước từ sông Mekong, đồng thời chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và biến động từ thượng nguồn.
Đối với nước mặt, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho dân sinh và các ngành kinh tế. Giải pháp trọng tâm là khai thác hiệu quả nguồn nước từ sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, tăng cường trữ nước, giữ ngọt, đặc biệt tại các khu vực thường xuyên bị hạn mặn như ven biển, bán đảo Cà Mau. Việc xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi được đặt ra. Đối với nước dưới đất, yêu cầu là khai thác hợp lý, không vượt ngưỡng giới hạn, kết hợp kiểm soát sụt lún, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, hạn chế khai thác tràn lan cho sản xuất.

Trong quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long, các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 gồm 100% vị trí giám sát dòng chảy xuyên biên giới được giám sát tự động, trực tuyến, 100% nguồn nước liên tỉnh được công bố khả năng tiếp nhận nước thải, 100% công trình khai thác, xả thải được giám sát vận hành, 100% nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường. Đồng thời, 50% nguồn nước thuộc đối tượng lập hành lang bảo vệ được cắm mốc theo quy định.
Cùng với đó, các kịch bản nguồn nước cho mùa cạn giai đoạn 2024-2025 và 2025-2026 đã được xây dựng, làm cơ sở điều hành khai thác, sử dụng nước ứng phó kịp thời với các thay đổi từ thượng nguồn, hạn hán, xâm nhập mặn. Đây được xem là công cụ quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo phát triển bền vững cho toàn vùng ĐBSCL trong bối cảnh mới.
Chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, coi nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều là tài nguyên

PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam chia sẻ tại Hội thảo
Cũng tại Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam cho biết, theo số liệu tại trạm Tân Châu giai đoạn 1990-2025 cho thấy xu thế lũ trên sông Mekong đang giảm rõ rệt. Từ sau năm 2012 đến nay, hầu như không còn xuất hiện lũ lớn vượt báo động 3, thay vào đó là chuỗi năm lũ nhỏ kéo dài. Nếu trước năm 2011, khoảng 4-5 năm lại có một trận lũ vừa hoặc lớn, thì hiện nay xu thế chủ đạo là lũ thấp, và trong 30-50 năm tới, khả năng xuất hiện lũ lớn sẽ rất hiếm, trong khi lũ nhỏ và rất thấp gia tăng.
Cùng với đó, xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến sớm và gay gắt hơn so với trước năm 2013. Mặn hiện xuất hiện từ giữa tháng 12 đến tháng 1, sớm hơn 1-1,5 tháng; đỉnh mặn cũng đến sớm hơn, rơi vào tháng 2-3 thay vì tháng 3-4 như trước đây. Đáng chú ý, dòng chảy mùa khô về đồng bằng có xu hướng tăng nhưng vẫn không đủ để ngăn chặn đà xâm nhập mặn ngày càng sâu.
Theo các kịch bản dự báo, ranh mặn tiếp tục lấn sâu vào nội đồng. Trên sông Tiền, độ mặn 4g/l có thể vào sâu khoảng 52 km (năm 2020), tăng lên 55,5 km vào năm 2030 và khoảng 62,5 km vào năm 2050. Bình quân, ranh mặn sẽ tăng thêm khoảng 3,3 km vào năm 2030 và 6,7 km vào năm 2050.

Người dân sử dụng bể chứa đựng nước phục vụ tươí tiêu cho sản xuất nông nghiệp
Trước thực trạng này, cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, coi nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều là tài nguyên. Quản lý nước phải chuyển từ đơn lẻ theo công trình sang liên vùng, liên tỉnh, hướng đến quản trị hiện đại. Các giải pháp trọng tâm gồm nâng cao năng lực dự báo, vận hành liên thông hệ thống thủy lợi, tổ chức sản xuất linh hoạt theo điều kiện nguồn nước, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý.
Về công trình, cần tiếp tục đầu tư các dự án kiểm soát mặn, xây dựng hệ thống kiểm soát tại các sông lớn, nâng cấp đê biển và phát triển các công trình chuyển nước, kết nối nguồn nước giữa các vùng. Đồng thời, chú trọng các giải pháp trữ nước quy mô lớn trong hệ thống kênh rạch và quy mô nhỏ tại hộ dân như ao, mương, ruộng nhằm chủ động ứng phó hạn mặn.
ĐBSCL vẫn là vùng nông nghiệp trọng điểm, nhưng đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng từ phát triển thượng nguồn, biến đổi khí hậu và sụt lún đất. Vì vậy, định hướng phát triển phải theo hướng thích nghi có kiểm soát, chủ động điều tiết nguồn nước để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo phát triển bền vững.
Văn DươngTạp chí Doanh nghiệp và Tiếp thị trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề "Ngày hội non sông và trọng trách trước Nhân dân".