Cần nhìn nhận ngành nhựa tái chế là ngành kinh tế kỹ thuật cao
Việt Nam đã hình thành năng lực tái chế nhựa ở quy mô đáng kể. Đã đến lúc cần nhìn nhận tái chế nhựa không chỉ là một hoạt động xử lý rác thải, mà là một ngành kinh tế kỹ thuật cao dựa trên nền tảng dữ liệu minh bạch.
Dữ liệu từ nền tảng LoopNet Asia tổng hợp từ hơn 2.500 đơn vị tái chế và cơ sở hoạt động trong chuỗi giá trị, phân bố trên cả ba miền và kết nối với mạng lưới thu gom phi chính thức rộng khắp tại các đô thị lớn.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Sự phân bổ địa lý cũng thể hiện rõ nét đặc thù kinh tế vùng miền: trong khi miền Bắc chiếm 30,2% với trọng tâm là các làng nghề đồng bằng sông Hồng, thì khu vực phía Nam chiếm ưu thế tuyệt đối với 62,4% số lượng đơn vị, phản ánh mật độ công nghiệp và tiêu dùng dày đặc quanh TP. Hồ Chí Minh.
Đáng chú ý, ngành nhựa tái chế Việt Nam thể hiện sự chuyên môn hóa rõ rệt theo loại vật liệu. Nhựa PE đang dẫn đầu phân khúc với 63,1% đơn vị xử lý, chủ yếu phục vụ màng bọc và bao bì công nghiệp. Theo sau là nhựa PP chiếm 50,0% ứng dụng trong đồ gia dụng và linh kiện. Nhựa PET, dù chỉ chiếm 9,3% số lượng cơ sở, nhưng lại là phân khúc có mức độ tập trung cao vào các doanh nghiệp quy mô lớn để sản xuất sợi rPET cho ngành dệt may xuất khẩu. Đây chính là một “tài sản kinh tế” chiến lược mà theo ước tính của World Bank, giá trị vật liệu có thể thu hồi đạt tới con số khổng lồ 2,9 tỷ USD.
Dù sở hữu tiềm năng tỷ đô, cấu trúc ngành nhựa tái chế hiện nay lại bộc lộ một nghịch lý lớn: năng lực xử lý tập trung nhưng dòng vật liệu đầu vào lại phân tán mạnh. Số liệu thị trường chỉ ra rằng chỉ khoảng 7,4% cơ sở tái chế nhưng đóng góp tới gần 90% sản lượng toàn quốc. Điều này cho thấy công suất thực tế nằm trong tay các doanh nghiệp lớn, nhưng họ lại đang phải “vật lộn” để chạm tới nguồn cung vật liệu vốn đang nằm rải rác trong tay hàng nghìn điểm thu mua nhỏ lẻ và lực lượng lao động phi chính thức.
Sự đứt gãy trong kết nối này dẫn đến hệ quả là phần lớn giá trị của ngành vẫn chỉ dừng lại ở khâu sản xuất hạt nhựa tái sinh - một dạng vật liệu trung gian trong chuỗi cung ứng. Hiện có tới 91,3% đơn vị tái chế đang hoạt động theo mô hình này. Trong khi đó, phần giá trị gia tăng cao hơn nằm ở các sản phẩm cuối và thương hiệu hạ nguồn lại đang bị bỏ ngỏ.
Bên cạnh đó, chi phí logistics đang trở thành gánh nặng kìm hãm sự lưu thông của dòng vật liệu. Tại Việt Nam, chi phí vận chuyển phế liệu nhựa có thể chiếm từ 25% đến 37% giá thu mua. Việc thiếu dữ liệu định tuyến đáng tin cậy khiến các luồng vận chuyển liên vùng trở nên kém hiệu quả, làm tăng chi phí đầu vào và giảm sức cạnh tranh của hạt nhựa tái sinh nội địa.
Để khơi thông nguồn lực 2,9 tỷ USD và nâng cấp vị thế ngành nhựa tái chế, phân tích của LoopNet Asia cho rằng giải pháp cấp thiết nhất chính là xây dựng hạ tầng dữ liệu chuỗi cung ứng xuyên suốt. Hệ thống này cần được thiết lập dựa trên ba lớp liên kết: ghi nhận dữ liệu tại điểm phát sinh, xác minh dòng chảy vật liệu và tích hợp vào chuỗi sản xuất.
Chỉ khi có được sự minh bạch về thông tin, ngành nhựa tái chế của Việt Nam mới có thể tiến vào các phân khúc giá trị cao, nơi vật liệu được tích hợp trực tiếp vào các sản phẩm tiêu dùng có thương hiệu.
Minh An (t/h)
Bài toán mới của chủ đầu tư KCN trong cuộc đua thu hút FDILàn sóng FDI thế hệ mới đang đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả vận hành và chất lượng dịch vụ trong khu công nghiệp (KCN). Số hóa quản lý vận hành được xem là chìa khóa giúp chủ đầu tư tối ưu nguồn lực, gia tăng giá trị trên mỗi hecta đất và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.