"Cứ về Thanh Hóa một lần" - Bản hòa ca xứ Thanh

Địa phương
02:11 PM 23/02/2026

Nhắc đến những gương mặt thơ nổi trội, giàu tâm huyết trong làng thơ xứ Thanh, không thể không nhắc tới nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm - một cây bút tài năng, bền bỉ, đằm sâu và nặng nghĩa với quê hương.Thơ ông không ồn ào, không phô diễn, mà lặng lẽ chắt lọc từ trầm tích lịch sử, văn hóa và tâm hồn người xứ Thanh để rồi ngân lên thành những vần thơ vừa mộc mạc vừa hào sảng. Nhiều tác phẩm của ông đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng bạn đọc, được đánh giá cao bởi chiều sâu cảm xúc và tư duy nghệ thuật giàu bản sắc. Trong đó, bài thơ “Cứ về Thanh Hóa một lần...” được xem như một lời mời gọi tha thiết, một bản hòa ca tự hào về

Mở đầu bài thơ ông viết: "Cứ về Thanh Hóa một lần/Thì em mới hiểu người dân xứ này/ Vì sao lại hát dô huầy/ Vì sao nhiều lúc đò đầy vẫn sang/ Vì sao đi cấy sáng trăng/ Vì sao hạt cát cũng vang trống đồng". Đây như là lời mời gọi thấm đẫm niềm tự hào về quê hương, đưa người đọc trở về với cội nguồn văn hóa và chiều sâu tâm hồn đất và người xứ Thanh. Cách mở đầu bằng lời nhắn nhủ thân thương, cái hay trong bài thơ "Cứ về Thanh Hóa một lần" trước hết nằm ở chất liệu đời sống đậm đặc về vùng đất địa linh nhân kiệt. Nó không chỉ là một chỉ dẫn địa lý, mà còn là một lời hẹn tinh thần: hãy đến để cảm, để sống, để hiểu.

Chuỗi câu hỏi tu từ liên tiếp "vì sao..." tạo nên nhịp điệu dân gian mộc mạc, gợi mở những tầng văn hóa bền bỉ đã kết tinh qua bao đời. "Hát dô huầy"- tiếng gọi lao động, tiếng hát cộng đồng- hiện lên như nhịp đập chung của con người xứ Thanh trong cuộc sống mưu sinh chan hòa nghĩa tình. "Nhiều lúc đò đầy vẫn sang" không chỉ là hình ảnh của lòng hào hiệp, mà còn là biểu trưng cho sự sẻ chia, cho nhân cách rộng mở, trọng nghĩa kinh tài của người dân nơi đây.

Người đọc nhận ra, thơ ông không bay bỗng xa rời thực tại mà cắm rẽ vào đất đai, sông núi, truyền thuyết, tiếng nói dân gian. Hình ảnh "đi cấy sáng trăng" gợi vẻ đẹp lao động, với thiên nhiên, lấy cần cù làm nền tảng sống, lấy nhẫn nại làm sức mạnh đi qua gian khó.

Đặc biệt, câu thơ "Vì sao hạt cát cũng vang trống đồng" là một liên tưởng giàu sức gợi và đầy tự hào: lịch sử Đông Sơn, truyền thống văn hóa lâu đời như thấm vào từng hạt cát, từng thớ đất, để quá khứ không ngủ yên mà ngân vang trong hiện tại.

"Cứ về Thanh Hóa một lần" - Bản hòa ca xứ Thanh- Ảnh 1.

Chân dung nhà thơ Nguyễn Minh Kiêm.

Bằng giọng điệu ngọt ngào, chân thành, Nguyễn Minh Khiêm đã chắt lọc những nét tinh túy nhất của quê hương Thanh Hóa anh hùng, biến chúng thành thơ- giản dị mà sâu lắng, mộc mạc mà giàu chiều kích văn hóa. Khổ thơ không chỉ ca ngợi một vùng đất, mà còn khẳng định một bản sắc: Thanh Hóa là nơi lịch sử, con người văn hóa hòa quyện, bền bỉ ngân vang qua từng câu chữ, từng nhịp thơ.

Không dừng lại ở đó, khổ thơ "Đâu cũng thần núi thần sông/ Đâu cũng tuyền thuyết thêu trong dệt ngoài..."với nhiều cảm thức, nhiều liên tưởng.Gợi lên một không gian văn hóa dày đặc huyền thoại, nơi mỗi tấc đất quê hương đều thấm đẫm chiều sâu lịch sử và tâm linh. Qua cách điệp từ "đâu cũng", tác giả muốn nhấn mạnh rằng không chỉ một vài địa danh, mà khắp nơi trên mảnh đất xứ Thanh đều chất chứa dấu tích thiêng liêng của núi sông, của thần tích, của những câu chuyện truyền đời.

Bởi "Thần núi thần sông" không đơn thuần là yếu tố tín ngưỡng dân gian, mà còn là biểu trưng cho hồn thiêng sông núi, cho truyền thống dựng nước và giữa nước bao đời. Còn truyền thuyết "Thêu trong dệt ngoài" là cách nói giàu hình ảnh, cho thấy lịch sử và huyền thoại đã hòa quyện vào cuộc sống, đan cài trong trong từng nếp nghĩ, lời ăn tiếng nói của con người quê hương.

Qua đó, tác giả bày tỏ niềm tự hào sâu sắc trước bề dày văn hóa-lịch sử của quê hương; đồng thời khơi dậy trong lòng người đọc cảm giác thiêng liêng, trân trọng với đất và người nơi đây. Đó không chỉ là cảnh sắc, mà là một không gian văn hóa sống động, nơi quá khứ vẫn âm thầm nâng đỡ hiện tại.

Nói cách khác, "Truyên thuyết thêu trong dệt ngoài" gợi lên lớp lớp thời gian được dệt bằng ký ức, bằng huyền thoại và đời sống bình dị. Tiếng " trạng cười" vang trong ngõ vừa hóm hỉnh, vừa thông tuệ, làm sáng bừng tinh thần dân gian xứ Thanh; còn" rạ rơn ăm ắp những lời giao duyên" lại ấm nồng hơi thở đời thường, nơi văn hóa sinh ra từ lao động, từ tình người mộc mạc mà sâu nặng. Những câu thơ giàu sức gợi ấy đã chắt lọc tinh túy của quê hương, để niềm tự hào xứ Thanh lan tỏa bền bỉ và thân thương trong lòng người đọc.

Đọc thơ Nguyễn Minh Khiêm, chúng ta nhận ra ông là con người yêu quê hương đến nồng nàn, da diết; phải chăng, xứ Thanh chính là mạch nguồn chủ đạo, làm nên cảm hứng thi ca trong không gian nghệ thuật của ông. Vì thế, Nguyễn Minh Khiêm có thêm một cách nói rất lạ mà rất sâu về lịch sử, về chủ quyền và về tình yêu đất nước.

"Kinh đô Việt mấy lần rồi/Mở trang sách cứ như chơi hú hà/ Mồ hôi xương máu đổ ra/ kết tinh thành đảo gọi là đảo mê/ Đá mài mực đá ăn thề/ yêu nhau đem cả biển về rửa chân".

Với hai câu mở đầu gợi nhắc lịch sử dân tộc với bao lần dời đô, bao biến thiên thăng trầm. Cách nói "Mở trang sử cứ như chơi hú hà"nghe tưởng nhẹ, nhưng càng làm nổi bật cái giá phải trả: Lịch sử không hề vô tư, mà được viết bằng mồ hôi, xương máu của biết bao thế hệ. Đó là một giọng thơ vừa châm biếm nhẹ nhàng, vừa đau đáu, khiến người đọc giật mình suy ngẫm sâu xa...

Hai câu tiếp theo đưa lịch sử từ trang sách trở về không gian địa lý cụ thể.Hòn Mê hiện lên không chỉ là một hòn đảo, mà là kết tinh của hy sinh, của máu thịt con người hóa thành hình hài Tổ quốc. Đảo không còn vô tri, mà mang linh hồn lịch sử, mang ký ức của những lớp người đi trước.

Đến hai câu kết đẩy cảm xúc lên cao hơn, mang màu sắc huyền thoại và thề ước. "Đá mài mực đá ăn thề" gợi sự bền gan, son sắt; còn "yêu nhau đem cả biển về rửa chân" thì quá độc đáo; là hình ảnh phóng đại đầy chất thơ, vừa lãng mạn vừa thiêng liêng. Ở đó, tình yêu đôi lứa hòa vào tình yêu đất nước, cá nhân hòa tan trong không gian biển đảo rộng lớn của non sông, gấm vóc.

Nhìn tổng thể, khổ thơ không chỉ nói về một địa danh hay một lát cắt lịch sử, mà khẳng định một chân lý: Tổ quốc được làm nên từ hy sinh, và chỉ có thể được giữ gìn bằng tình yêu lớn lao, bền chặt như lời thề đá mực, mênh mang như biển cả. Giọng thơ phóng khoáng, hình ảnh táo bạo, khiến lịch sử trở nên sống động, gần gũi mà vẫn rất đổi thiêng liêng.

Dấu ấn và cái hay của bài thơ "Cứ về Thanh Hóa một lần"- Nguyễn Minh Khiêm không chỉ là một lời mời gọi, mà là tiếng gọi từ chiều sâu lịch sử, văn hóa và tâm hồn xứ Thanh. Đọc tác phẩm, người ta không đơn thuần được " đi thăm" một vùng đất, mà được dẫn dắt vào một không gian kết tinh của trầm tích thời gian, của khí phách và ân tình.

Không ngạc nhiên, ngay từ nhan đề, điệp ngữ "cứ về" điệp ngữ ấy đã làm nên một giọng điệu tha thiết, chân thành. Không phải "hãy" không phải " nên", mà là "cứ" – một lời mời tự nhiên, tin cậy , như thể chỉ cần một lần chạm bước, lòng người sẽ tự hiểu. Ẩn sau đó là niềm tự hào sâu sắc và một sự tự tin rất đỗi dung dị: Thanh Hóa không cần phô trương, bởi bản thân mảnh đất ấy đã đủ sức thuyết phục lòng người.

Đáng chú ý, về mặt nội dung, bài thơ triển khai theo một logic giàu tính cảm xúc: từ bề dày lịch sử đến chiều sâu văn hóa, từ cảnh sắc thiên nhiên đến con người. Thanh Hóa hiện lên không chỉ là địa danh, mà là "kinh đô Việt mấy lần rồi", là nơi hội tụ của những lớp lớp anh hùng, của mồ hôi và xương máu kết tinh thành hình hài Tổ quốc. Cách tác giả liên tưởng lịch sử với những hình ảnh cụ thể, gần gũi đã làm cho quá khứ không còn xa vời mà sống động như đang hiện hữu trong từng trang thơ.

Bên cạnh chiều sâu lịch sử là chiều sâu văn hóa. Những câu thơ gợi nhắc truyền thuyết, thần núi thần sông, tiếng trạng cười, lời giao duyên... đã khắc họa một xứ Thanh đậm đặc huyền thoại và dân gian. Văn hóa ở đây không khô cứng, mà "thêu trong dệt ngoài", thấm vào rạ rơm, vào ngõ xóm, vào tiếng cười và tình yêu. Nhà thơ đã khéo léo kết hợp chất sử thi với chất trữ tình, khiến bài thơ vừa có tầm vóc, vừa có hơi ấm đời thường.

Mỗi câu thơ như được chưng cất từ rạ rơm, từ "ngõ quê", từ những lớp trầm tích lịch sử. Nhờ vậy, thơ ông gợi lên một Thanh Hóa vừa thiêng liêng, vừa gần gũi-nơi "thần núi thần sông" song hành cùng tiếng cười trạng, câu hò hẹn giao duyên...

Như vậy, cái hay thứ nhất mà Nguyễn Minh Khiêm đã thành công, không nằm ở giọng điệu. Ông không ca ngợi bằng những lời lớn lao sáo rỗng, mà bằng sự từng trải và rung động thật sự. Hình ảnh trong thơ giàu sức gợi, giàu liên tưởng, đôi khi táo bạo mà vẫn đằm thắm. Thanh Hóa hiện lên vừa kiêu hãnh vừa bao dung, vừa dữ dội trong lịch sử, vừa mềm mại trong tình người. Chính sự hòa quyện ấy đã tạo nên một sức lay động tự nhiên mà không dễ gì nhà thơ nào cũng có được.

Cái hay thứ hai là ở chiều sâu văn hóa- lịch sử. Thơ ông thường gợi nhắc những trang sử oai hùng, những địa danh, biểu tượng kết tinh từ "mồ hôi xương máu". Nhưng ông không kể lịch sử theo lối khô khan, mà làm cho lịch sử trở nên sống động bằng hình ảnh giàu liên tưởng, khiến người đọc cảm nhận được khí phách cha ông bằng rung động thẩm mỹ.

Thứ ba, thơ ông giàu tính biểu tượng và sức gợi. Những hình ảnh như "đá mài mực", "đem cả biển về rửa chân" không chỉ là tả thực mà còn hàm chứa khát vọng lớn lao, tình yêu nồng hậu và niềm tự hào quê hương sâu sắc. Cách dùng từ giản dị nhưng cấu tứ độc đáo, tạo nên dư vang sau mỗi câu thơ.

Và cuối cùng, cái hay trong thơ Nguyễn Minh Khiêm chính là tình người. Dù viết về quê hương, lịch sử hay hiện tại, giọng thơ vẫn ấm áp, thủy chung, chan chứa niềm tin. Ông không chỉ viết để ngợi ca, mà còn để nhắc nhớ, gìn giữ và truyền lửa cho hôm nay và cho cả mai sau.

Chính sự kết hợp giữa hồn quê mộc mạc, chiều sâu văn hóa và cảm xúc chân thành ấy đã làm nên một phong vị riêng cho thơ ông - đọc rồi, người ta không chỉ hiểu thêm về xứ Thanh, mà còn thấy lòng mình được đánh thức bởi niềm tự hào và yêu thương.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giàu nhạc tính, nhiều điệp khúc cấu trúc và liên tưởng sáng tạo. Cách sắp xếp hình ảnh theo tầng lớp- từ lịch sử đến huyền thoại, từ thiên nhiên đến con người- tạo nên một dòng chảy liền mạch, khiến người đọc như đang bước vào chiều sâu của đất và người xứ Thanh. Đó là một kết cấu vừa logic vừa cảm xúc, làm cho bài thơ không chỉ hay ở từng câu chữ mà còn vững vàng ở tổng thể.

Có thể nói: "Cứ về Thanh Hóa một lần" không chỉ là bài thơ ca ngợi quê hương, mà còn là một tuyên ngôn về bản sắc. Qua tiếng thơ của Nguyễn Minh Khiêm, Thanh Hóa hiện ra như một miền đất "địa linh nhân kiết", nơi mỗi tấc đất đều có câu chuyện, mỗi ngọn gió đều mang âm vang lịch sử. Đọc xong bài thơ, người ta không chỉ hiểu thêm về Thanh Hóa, mà còn thấy lòng mình rung lên một niềm tự hào chung về quê hương, đất nước.

Đó cũng là điều lắng đọng sâu nhất, là cảm giác thôi thúc: nếu chưa từng đặt chân đến xứ Thanh, ta bỗng muốn "cứ về một lần"- để lắng nghe, để chạm vào, và để hiểu vì sao mảnh đất ấy có thể đi vào thơ ca với tất cả sự nâng niu và kiêu hãnh đến thế.


Triều Nguyệt
Ý kiến của bạn