Đề xuất tháo gỡ 6 điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra ngày 18/7, Bộ Tài chính đã chỉ ra 6 nhóm "điểm nghẽn" lớn đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, đồng thời đề xuất hàng loạt giải pháp nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Phát biểu tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng" diễn ra ngày 18/7 tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết đến hết tháng 6/2026, cả nước có gần 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký hơn 30,6 triệu tỷ đồng. Khu vực doanh nghiệp đóng góp trên 60% GDP, tạo việc làm cho hơn 17,6 triệu lao động và chiếm tỉ trọng chủ yếu trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Đáng chú ý, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục được củng cố khi trong 6 tháng đầu năm có gần 170.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, tăng 11,2% so với cùng kỳ. Trong đó, gần 111.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 22,5%. Đồng thời, tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới đạt khoảng 1,4 triệu tỷ đồng, tăng 64,8%; quy mô vốn bình quân đạt 12,22 tỷ đồng mỗi doanh nghiệp, tăng 35,7%.
Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi trong năm 2025 cũng tăng lên 42,6%, phản ánh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang dần được cải thiện.

Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: VGP
Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng khu vực doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản, trong đó nổi bật là mối liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI còn lỏng lẻo, chưa hình thành được các chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng trong nước đủ sức lan tỏa.
Qua tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội cùng kết quả rà soát của các bộ, ngành, Bộ Tài chính xác định 6 nhóm khó khăn lớn.
Trước hết là thể chế và tổ chức thực hiện. Nhiều quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; văn bản hướng dẫn ở một số lĩnh vực ban hành chậm; việc thực thi giữa các địa phương chưa thống nhất. Dù thủ tục hành chính đã được cải cách, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nhiều khâu, nhiều nơi còn tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, làm kéo dài thời gian triển khai dự án.
Thứ hai là khó khăn trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn và đất đai. Các kênh huy động vốn trung, dài hạn như thị trường vốn, quỹ đầu tư hay cho thuê tài chính chưa phát huy hiệu quả. Trong khi đó, các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, xác định giá đất và thủ tục đất đai tiếp tục làm tăng chi phí, kéo dài thời gian đầu tư.
Thứ ba là chi phí sản xuất, kinh doanh và dòng tiền. Giá nguyên liệu, năng lượng, logistics, vốn và lao động vẫn ở mức cao; đồng thời các yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, ESG, truy xuất nguồn gốc làm gia tăng chi phí tuân thủ. Việc chậm hoàn thuế, giải ngân đầu tư công hoặc thanh toán cũng gây áp lực lớn lên dòng tiền của doanh nghiệp.
Thứ tư là áp lực từ thị trường và chuỗi cung ứng. Xu hướng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu giảm phát thải, cơ chế điều chỉnh carbon cùng những tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe đang tạo thêm sức ép đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong khi thị trường trong nước và chuỗi cung ứng nội địa chưa thực sự trở thành bệ đỡ vững chắc.
Thứ năm là hạn chế về khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực. Cơ chế khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ chưa đủ mạnh; liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế. Nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực số và công nghệ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Cuối cùng là liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp còn yếu, làm hạn chế chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp hỗ trợ và hình thành chuỗi giá trị trong nước.
Theo Bộ Tài chính, phần lớn các khó khăn hiện nay không xuất phát từ việc thiếu chủ trương hay cơ chế, mà chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện chính sách.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, Bộ Tài chính đề xuất tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trên nền tảng số, hướng tới mục tiêu doanh nghiệp chỉ phải cung cấp thông tin một lần, các cơ quan nhà nước kết nối và chia sẻ dữ liệu.
Một trong những giải pháp trọng tâm là khơi thông dòng vốn thông qua hoàn thiện cơ chế cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng và dữ liệu; mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm; đồng thời phát triển thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và tài trợ chuỗi cung ứng. Bộ cũng kiến nghị bảo đảm thanh toán đúng hạn đối với hoàn thuế, đầu tư công và mua sắm công nhằm giảm áp lực dòng tiền cho doanh nghiệp.
Song song với đó, cần tháo gỡ các vướng mắc về đất đai, xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ, công khai dữ liệu quy hoạch và đẩy nhanh đầu tư hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, khu công nghiệp và hạ tầng số.
Để giảm chi phí tuân thủ, Bộ Tài chính đề xuất thống nhất hệ thống mã hàng, tiêu chuẩn và quy chuẩn; áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra chuyên ngành; rà soát các loại thuế, phí và phụ phí logistics; đồng thời tăng cường kết nối dữ liệu giữa các cơ quan để rút ngắn thời gian thông quan.
Bộ cũng kiến nghị đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và ESG, thúc đẩy nghiên cứu - phát triển, thương mại hóa công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp.
Đối với từng khu vực doanh nghiệp, Bộ Tài chính đề xuất doanh nghiệp nhà nước tập trung nguồn lực vào các ngành nền tảng, hạ tầng và công nghiệp chiến lược; doanh nghiệp tư nhân được bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai và các dự án đầu tư công, đồng thời được hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Đối với khu vực FDI, định hướng thu hút đầu tư sẽ chuyển từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, nghiên cứu - phát triển, năng lượng sạch, hạ tầng số và công nghiệp hỗ trợ, gắn với cam kết chuyển giao công nghệ và sử dụng nhà cung ứng trong nước.
Bộ Tài chính cũng đề xuất thiết lập cơ chế liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI, lựa chọn các ngành có khả năng lan tỏa cao như năng lượng, logistics, công nghiệp hỗ trợ, chế biến chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi xanh để hình thành các chuỗi giá trị nội địa, qua đó nâng cao sức cạnh tranh và tăng tính tự chủ của nền kinh tế.
Huyền My (t/h)
Hà Nội đồng thời triển khai nhiều dự án phát triển nhà ởViệc tiếp tục bổ sung nguồn cung bất động sản trên địa bàn TP Hà Nội kỳ vọng sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu về nhà ở của người dân theo kế hoạch phát triển của thành phố.