Điều chỉnh quy hoạch đường sắt tầm nhìn đến năm 2050
Theo Quyết định điều chỉnh mới, tổng nhu cầu quỹ đất dành cho đường sắt dự kiến đến năm 2030 khoảng 28.146 ha (tăng 6.259 ha) với tổng nhu cầu vốn dự kiến đến năm 2030 khoảng 1,51 triệu tỷ đồng (giảm 32.828 tỷ đồng), sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn ngoài ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Bộ Xây dựng vừa ra Quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Việc điều chỉnh dựa trên việc cập nhật chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước và Quốc hội được ban hành đã tác động đến nhu cầu vận tải thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050... cũng như kết quả triển khai các dự án, quy hoạch đường sắt liên quan.
Theo Quyết định điều chỉnh mới, tổng nhu cầu quỹ đất dành cho đường sắt dự kiến đến năm 2030 khoảng 28.146 ha (tăng 6.259 ha).
Bên cạnh đó, tổng nhu cầu vốn dự kiến đến năm 2030 khoảng 1,51 triệu tỷ đồng (giảm 32.828 tỷ đồng), sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn ngoài ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Nguồn: Bộ Xây dựng.
Việc tăng quỹ đất và giảm nhu cầu vốn nhằm cập nhật nhu cầu sử dụng đất và vốn đầu tư theo các dự án đang triển khai nghiên cứu như dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Trên cơ sở phương án quy hoạch điều chỉnh, tư vấn sẽ tính toán nhu cầu sử dụng đất và tài nguyên khác của mạng lưới đường sắt quy hoạch. Định hướng đến năm 2050, tổng nhu cầu đất dự kiến cho đường sắt là 31.450 ha, nhu cầu vốn đầu tư gần 3,16 triệu tỷ đồng.
Đối với các tuyến đường sắt xây dựng mới, quy hoạch xác định 16 tuyến khổ tiêu chuẩn 1.435mm.
Có 10 tuyến được triển khai trong giai đoạn trước và sau năm 2030.
Khu vực phía Bắc có các tuyến: Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (363 km), Hà Nội - Đồng Đăng (156 km), Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái (187 km), tuyến vành đai phía Đông Hà Nội đoạn Ngọc Hồi - Kim Sơn (31 km).
Khu vực phía Nam có bốn tuyến gồm: Biên Hòa - Vũng Tàu (132 km), TP.HCM - Lộc Ninh (128 km), TP.HCM - Cần Thơ - Cà Mau (320 km), An Bình - Sài Gòn - Tân Kiên (33 km).
Hai tuyến khu vực miền Trung gồm Vũng Áng - Mụ Giạ (105 km) và Tháp Chàm - Đà Lạt (84 km).
Sáu tuyến còn lại được định hướng đầu tư sau năm 2030, gồm: Đà Nẵng - Quảng Ngãi - Gia Lai - Đắk Lắk - Lâm Đồng - Đồng Nai (555 km); Ninh Bình - Hưng Yên - Hải Phòng (64 km); vành đai phía Tây Hà Nội đoạn Ngọc Hồi - Thạch Lỗi (54 km); TP.HCM - Mộc Bài (61 km); Mỹ Thủy - Lao Bảo (114 km); Thái Nguyên - Tuyên Quang - Lào Cai (73 km).
Quy hoạch xác định hai tuyến đường sắt tốc độ cao gồm: tuyến Bắc - Nam dài 1.541 km được đầu tư theo hai giai đoạn trước và sau năm 2030; tuyến Hà Nội - Quảng Ninh được ưu tiên đầu tư trước năm 2030.
Theo Bộ Xây dựng, định hướng đến năm 2050, đối với hệ thống đường sắt hiện có, Bộ Xây dựng đặt mục tiêu từng bước cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa để nâng cao năng lực khai thác, đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa; hoàn thiện kết nối tại các đầu mối đường sắt; duy trì và phát triển các tuyến nhánh kết nối cảng biển; tiếp tục mở rộng các ga gắn với đường sắt chuyên dùng và đường sắt địa phương.
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý sẽ nghiên cứu chuyển đổi công năng một số tuyến hoặc đoạn tuyến đường sắt hiện có, giao địa phương quản lý, vận hành và khai thác hiệu quả hơn.
Đối với các tuyến xây dựng mới, việc đầu tư sẽ được triển khai theo từng giai đoạn, phù hợp với nhu cầu vận tải và khả năng huy động nguồn lực, bảo đảm hiệu quả đầu tư.
Trong đó, quy hoạch ưu tiên phát triển các tuyến kết nối liên vùng và quốc tế như đường sắt ven biển Ninh Bình - Hưng Yên - Hải Phòng, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái (kết nối Trung Quốc); Thái Nguyên - Tuyên Quang - Lào Cai; Mỹ Thủy - Lao Bảo (kết nối Lào); TP.HCM - Tây Ninh (định hướng kết nối Campuchia); tuyến kết nối Duyên hải Nam Trung Bộ với Tây Nguyên (Đà Nẵng - Quảng Ngãi - Gia Lai - Đắk Lắk - Lâm Đồng - Đồng Nai); khôi phục tuyến Tháp Chàm - Đà Lạt và hoàn thiện các tuyến đường sắt tại các khu đầu mối.
Nhật Mai
ESG, AI và chuyển đổi số mở hướng phát triển bền vững cho doanh nghiệpTrong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt với nhiều biến động từ địa chính trị, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI), việc nâng cao năng lực chống chịu đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp. Đây cũng là nội dung được nhiều chuyên gia trong và ngoài nước chia sẻ tại Hội thảo quốc tế lần thứ tư về "Các vấn đề đương đại trong quản trị và kinh doanh" (CIBM 2026) do Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 28/7 tại Hà Nội.