Doanh nghiệp nội vẫn "hụt hơi" trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Mặc dù kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn 2021-2025, khu vực doanh nghiệp trong nước lại đang đối mặt với nghịch lý: tỷ trọng xuất khẩu suy giảm, khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng thu hẹp và thiếu vắng các liên kết cung ứng bền vững để bứt phá.
Tại diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”, TS Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách (Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới), đã chỉ ra bức tranh về vị thế của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Cụ thể, quy mô thương mại và xuất khẩu của Việt Nam mở rộng nhanh chóng trong giai đoạn 2021-2025 (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng từ 668,5 tỷ USD lên 930,05 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD năm 2025). Tuy nhiên, sự tăng trưởng này lại chưa đi cùng xu hướng củng cố vị thế cho doanh nghiệp nội.
Hạn chế lớn nhất thể hiện ở tỷ trọng đóng góp suy giảm. Cụ thể, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực trong nước đã giảm từ 26,4% (năm 2021) xuống chỉ còn 22,7% (năm 2025). Đáng chú ý, riêng trong năm 2025, xuất khẩu của khối nội địa sụt giảm 6,1%, trong khi khu vực FDI lại tăng trưởng mạnh 26,1% và duy trì mức chi phối lên tới 77,3% tổng kim ngạch.
Không chỉ yếu về mặt con số xuất khẩu, mức độ tham gia và khả năng tạo giá trị của doanh nghiệp Việt cũng rất hạn chế. Theo Báo cáo Viet Nam 2045 “Trading Up in a Changing World” của World Bank, tỷ lệ doanh nghiệp nội địa có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu đã sụt giảm nghiêm trọng từ khoảng 35% (năm 2009) xuống chỉ còn 18% (năm 2023). Hơn nữa, mảng dịch vụ mới chiếm khoảng 12% tổng xuất khẩu và lực lượng lao động kỹ năng cao trong khu vực chế biến, chế tạo chỉ đạt vỏn vẹn khoảng 5%.
Phân tích về nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, TS Hương cho rằng điểm nghẽn lớn nhất nằm ở tính thiếu ổn định và chiều sâu trong quan hệ cung ứng. Một nền kinh tế có thể đạt quy mô xuất khẩu lớn nhờ sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia và mạng lưới sản xuất xuyên biên giới, nhưng điều đó chưa tự động bảo đảm doanh nghiệp trong nước được kết nối sâu hơn hoặc dịch chuyển lên những chức năng có giá trị cao hơn.
Nhiều nghiên cứu cho thấy liên kết giữa khối doanh nghiệp tư nhân trong nước với khu vực FDI chưa tương xứng với quy mô. Theo TS Hương, vấn đề liên kết không nên chỉ dừng ở việc xem xét tỷ lệ mua hàng trong nước. Việc một đầu vào được mua từ doanh nghiệp nội địa chưa phản ánh rõ doanh nghiệp đó đang đảm nhận chức năng nào, sản phẩm có độ phức tạp ra sao, và liệu mối quan hệ đó có giúp doanh nghiệp tích lũy công nghệ, kỹ năng hay năng lực quản trị hay không. Nguyên nhân sâu xa là doanh nghiệp Việt chưa hình thành và duy trì được những quan hệ cung ứng đủ bền vững để tạo ra quá trình học hỏi, tích lũy và nâng cấp năng lực dài hạn.
Bên cạnh đó, việc phụ thuộc chủ yếu vào lắp ráp theo thiết kế có sẵn, thiếu hụt lực lượng lao động kỹ năng cao và chậm đổi mới hệ thống quản trị dữ liệu, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh (ESG) khiến doanh nghiệp nội khó dịch chuyển lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
An Mai (t/h)
Đã có 1.310 hạn ngạch được giao dịch trên sàn carbon trong nước sau hơn 2 thángSau hơn 2 tháng chính thức vận hành, sàn giao dịch carbon trong nước đã ghi nhận 7 giao dịch với tổng cộng 1.310 hạn ngạch được giao dịch. Trong giai đoạn đầu, hàng hóa trên sàn chủ yếu là hạn ngạch phát thải khí nhà kính, trong khi nguồn cung tín chỉ carbon đang được tiếp tục chuẩn bị.