Đổi đổi mới quản trị quốc gia của Việt Nam trên chặng đường hướng tới năm 2045
Tại Diễn đàn quốc tế thường niên về Quản trị công năm 2026 đang diễn ra tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, đã có tham luận định hướng với chủ đề “Đổi mới quản trị quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới: Những định hướng chiến lược đối với Việt Nam”. Qua nội dung tham luận đã nêu ra nhiều khung lý thuyết, giải pháp chiến lược quan trọng và yêu cầu đặt ra đối với đổi mới quản trị quốc gia của Việt Nam trên chặng đường hướng tới năm 2045.
Tại tham luận này, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng khẳng định: Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với thế và lực được tích lũy qua gần bốn mươi năm đổi mới. Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra yêu cầu về một bước chuyển căn bản trong mô hình phát triển, dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị quốc gia.
Đối với Việt Nam, Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, với khát vọng đưa đất nước trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Những quyết sách chiến lược đang được triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực then chốt, từ đổi mới mô hình phát triển, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến hoàn thiện thể chế và pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo, năng lượng và chăm sóc sức khỏe nhân dân, qua đó tạo thêm những điều kiện cần thiết để Việt Nam đổi mới phương thức phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và chuẩn bị nền tảng cho chặng đường hướng tới năm 2045.

GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, trình bày tham luận về “Đổi mới quản trị quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới: Những định hướng chiến lược đối với Việt Nam” tại Diễn đàn.
Việt Nam đang hướng tới một mô hình phát triển dựa ngày càng nhiều vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời nâng cao khả năng tự chủ, thích ứng và vị thế của đất nước trong nền kinh tế thế giới. Những định hướng chiến lược đã được xác lập cần được triển khai trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thể chế cần khuyến khích đổi mới và huy động hiệu quả các nguồn lực; khoa học và công nghệ phải tạo ra năng suất, sản phẩm và sức cạnh tranh mới; doanh nghiệp Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào những khâu có giá trị cao; giáo dục và đào tạo phải chuẩn bị nguồn nhân lực cho những ngành nghề và phương thức sản xuất đang thay đổi; năng lượng, hạ tầng số và dữ liệu phải đáp ứng yêu cầu phát triển trong dài hạn. Hội nhập quốc tế cần mang lại thêm thị trường, công nghệ, tri thức và nguồn lực, qua đó nâng cao nội lực và khả năng tự chủ của đất nước.
Chặng đường phía trước đặt ra những yêu cầu mới về năng lực phát triển của Việt Nam. Bốn mươi năm đổi mới cho thấy sức phát triển to lớn được tạo ra khi tư duy được đổi mới, những ràng buộc không còn phù hợp được gỡ bỏ, sức sản xuất được giải phóng và nguồn lực xã hội được khơi thông. Dư địa này còn lớn và cần tiếp tục được khai mở.
Hướng tới năm 2045, Việt Nam phải chủ động xây dựng những nền tảng của một nước phát triển: năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, thể chế hiện đại, doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế, hạ tầng số và dữ liệu, khả năng bảo đảm các nguồn lực chiến lược và thích ứng với những biến động bên ngoài. Những năng lực này cần được chuẩn bị và tích lũy từ hôm nay.
Điều đó đặt năng lực quản trị quốc gia vào vị trí đặc biệt quan trọng. Các định hướng chiến lược phải được cụ thể hóa thành thể chế và chính sách, được bảo đảm bằng nguồn lực và tổ chức thực hiện nhất quán, hiệu quả. Trong một nền kinh tế ngày càng phức tạp và liên kết chặt chẽ, Nhà nước cần nâng cao năng lực lựa chọn ưu tiên, phối hợp liên ngành, xử lý những vấn đề mới và điều chỉnh chính sách từ thực tiễn. Đổi mới quản trị quốc gia vì thế phải góp phần biến các lựa chọn chiến lược thành kết quả phát triển và bồi đắp những năng lực quốc gia cần thiết cho mục tiêu năm 2045.

Toàn cảnh Diễn đàn.
Tại Diễn đàn quốc tế thường niên về Quản trị công năm 2026, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, nhấn mạnh bốn định hướng chiến lược của Việt Nam đối với đổi mới quản trị quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.
Thứ nhất, nâng cao năng lực của Nhà nước trong tổ chức và kiến tạo phát triển. Mô hình phát triển mới đặt ra yêu cầu cao hơn đối với vai trò của Nhà nước. Khi tăng trưởng dựa ngày càng nhiều vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, Nhà nước cần có năng lực xác định những ưu tiên có ý nghĩa chiến lược, tập trung nguồn lực cho những nền tảng dài hạn và tạo môi trường để doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu, giáo dục và xã hội phát huy sức sáng tạo.
Nguồn lực của một quốc gia chỉ thực sự trở thành sức mạnh phát triển khi được tổ chức và kết hợp có hiệu quả. Vốn đầu tư cần gắn với công nghệ và nguồn nhân lực; nghiên cứu cần gặp được doanh nghiệp có khả năng hấp thụ và thương mại hóa; hạ tầng số và dữ liệu cần phục vụ sản xuất, quản trị và đổi mới sáng tạo; hội nhập cần giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực và tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn của chuỗi giá trị.
Vì vậy, năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước trước hết là năng lực lựa chọn và tổ chức: lựa chọn đúng những ưu tiên có khả năng tạo chuyển biến dài hạn; huy động và phân bổ nguồn lực theo những ưu tiên đó; kết nối các nguồn lực để tạo ra hiệu quả lớn hơn; và duy trì năng lực thực hiện đủ mạnh để biến lựa chọn chiến lược thành kết quả.
Thứ hai, xây dựng thể chế có chất lượng cao, đưa thể chế trở thành một lợi thế phát triển của Việt Nam. Gần bốn mươi năm đổi mới cho thấy thể chế có thể mở ra những không gian phát triển rất lớn khi tháo gỡ được các ràng buộc, mở rộng quyền chủ động và khơi thông nguồn lực xã hội. Trong giai đoạn mới, thể chế còn phải đi trước một bước để tạo điều kiện cho những động lực phát triển mới hình thành và lớn lên.
Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, công nghệ xanh, kinh tế số và các mô hình kinh doanh mới đang phát triển nhanh hơn chu kỳ chính sách truyền thống. Thể chế vì thế cần vừa bảo đảm tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo, vừa đủ linh hoạt để thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh trước những vấn đề mới.
Một môi trường thể chế có chất lượng phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, giảm chi phí và sự bất định, đồng thời khuyến khích đầu tư dài hạn và đổi mới sáng tạo. Thể chế cần được nhìn như một nguồn lực phát triển. Một cơ chế tốt có thể làm thay đổi hành vi đầu tư, tạo ra thị trường mới, thúc đẩy doanh nghiệp mới và mở đường cho những năng lực công nghệ chưa tồn tại. Ngược lại, thể chế chậm thay đổi có thể làm tăng chi phí và khiến cơ hội phát triển bị bỏ lỡ.
Chất lượng thể chế cuối cùng phải được kiểm chứng bằng thực thi. Chủ trương phải đi được vào chính sách; chính sách phải có nguồn lực và trách nhiệm thực hiện; những vướng mắc phát sinh phải được nhận biết và xử lý kịp thời. Rút ngắn khoảng cách giữa quyết sách và kết quả phải trở thành một yêu cầu quan trọng của cải cách thể chế trong giai đoạn mới.
Thứ ba, nâng cao năng lực chiến lược, khả năng học hỏi và tự chủ của quốc gia. GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, nhấn mạnh mục tiêu năm 2045 cần trở thành một điểm quy chiếu cho những lựa chọn của hiện tại. Câu hỏi quan trọng không chỉ là Việt Nam muốn đạt tới trình độ phát triển nào, mà còn là đến thời điểm đó đất nước cần làm chủ những công nghệ nào, cần nguồn nhân lực ở trình độ nào, cần những doanh nghiệp có năng lực ra sao, cần hệ thống hạ tầng và năng lực quản trị như thế nào. Từ đó có thể xác định những nền tảng phải được chuẩn bị ngay trong giai đoạn hiện nay...
Thứ tư, phát triển con người và năng lực xã hội thành nền tảng lâu dài của năng lực quốc gia. Cụ thể, một nền kinh tế dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo đòi hỏi một bước phát triển tương ứng về con người. Giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, thu hút và sử dụng nhân tài cần gắn chặt hơn với những năng lực mà Việt Nam cần cho mô hình phát triển mới.

Đại biểu tham dự Diễn đàn.
Đối với khu vực công, yêu cầu không dừng ở kiến thức chuyên môn. Cán bộ, công chức, viên chức cần nâng cao năng lực phân tích và tham mưu chính sách, sử dụng dữ liệu và công nghệ, phối hợp giữa các lĩnh vực, tổ chức thực hiện và xử lý những vấn đề ngày càng phức tạp. Khi nhiều vấn đề mới chưa có lời giải sẵn, khả năng nhận diện đúng vấn đề, học hỏi trong quá trình hành động và điều chỉnh kịp thời trở thành một phần quan trọng của năng lực công vụ.
Năng lực quốc gia, tuy nhiên, không nằm riêng trong bộ máy nhà nước. Nó được hình thành trong quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu và giáo dục, cộng đồng và người dân. Một Nhà nước có năng lực phải có khả năng khơi dậy, kết nối và tạo điều kiện để những năng lực đang phân bố trong toàn xã hội cùng tham gia vào quá trình phát triển...
GS.TS Nguyễn Xuân Thắng nhận định rằng: Gần bốn mươi năm đổi mới cho Việt Nam một kinh nghiệm quan trọng: đổi mới tư duy và thể chế có thể mở ra những nguồn lực phát triển rất lớn của đất nước và xã hội. Bước vào giai đoạn mới, tinh thần đổi mới ấy cần được tiếp tục với yêu cầu cao hơn: chủ động chuẩn bị những năng lực mà Việt Nam cần để đạt tới một trình độ phát triển mới vào năm 2045.
Những mục tiêu lớn đã được xác định, nhiều quyết sách chiến lược đang được triển khai. Thách thức của những năm tới nằm ở năng lực thực hiện: đưa tầm nhìn vào thể chế, đưa quyết sách vào cuộc sống, tổ chức hiệu quả các nguồn lực và tạo dựng những năng lực phát triển mới.
Đây cũng là thước đo thực chất của đổi mới quản trị quốc gia. Trong quá trình đó, Việt Nam cần tiếp tục mở rộng hợp tác, tiếp thu có chọn lọc tri thức và kinh nghiệm quốc tế để nâng cao năng lực của đất nước, đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm từ thực tiễn đổi mới và tham gia ngày càng chủ động, có trách nhiệm vào các nỗ lực chung về quản trị và phát triển.
"Một nền quản trị có tầm nhìn phải giải quyết tốt những yêu cầu của hôm nay và chuẩn bị đủ năng lực cho đất nước đi tới tương lai. Đó là yêu cầu đặt ra đối với đổi mới quản trị quốc gia của Việt Nam trên chặng đường hướng tới năm 2045", GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương nhận định.
Minh Hùng
Tôn vinh doanh nghiệp vì người lao động, công nhân lao động Thủ đô tiêu biểu năm 2026Ngày 6/10, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô, Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị tôn vinh “Doanh nghiệp vì người lao động” và “Công nhân lao động Thủ đô tiêu biểu” năm 2026. Sự kiện là hoạt động ý nghĩa, hướng tới chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026) và 22 năm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2004 - 13/10/2026).