Ngành chè Việt Nam tìm hướng nâng giá trị xuất khẩu
Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu chè của Việt Nam đạt 77,25 nghìn tấn, trị giá 143,48 triệu USD, giảm cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm trước. Dù vậy, giá xuất khẩu bình quân tăng 4,5%, trong khi cơ cấu thị trường có sự dịch chuyển theo hướng mở rộng sang những thị trường có yêu cầu cao hơn về chất lượng, tạo dư địa nâng giá trị cho ngành chè.
Xuất khẩu chè của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026 đối mặt với nhiều khó khăn khi thời tiết không thuận lợi tại các vùng sản xuất trọng điểm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng nguyên liệu. Cùng với đó, nhu cầu tiêu thụ tại một số thị trường truyền thống có dấu hiệu chững lại, khiến lượng hàng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu thống kê từ Cục Hải quan, tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu 12,78 nghìn tấn chè, thu về 26,69 triệu USD. So với tháng 7, lượng xuất khẩu giảm 5,4%, trị giá giảm 4,1%. So với tháng 8/2025, lượng chè xuất khẩu giảm 9,3%, nhưng trị giá tăng 6,8%.
Tính chung 8 tháng, xuất khẩu chè đạt 77,25 nghìn tấn, trị giá 143,48 triệu USD, giảm 9,8% về lượng và 1,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Diễn biến này cho thấy áp lực đối với ngành chè không chỉ đến từ nguồn cung và sức mua, mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao giá trị sản phẩm trong bối cảnh sản lượng xuất khẩu chưa phục hồi.

Ảnh minh họa: Internet
Điểm đáng chú ý là giá bình quân xuất khẩu chè của Việt Nam tiếp tục tăng. Trong tháng 8, mức giá đạt 2.088,1 USD/tấn, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 17,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 8 tháng, giá xuất khẩu bình quân đạt 1.777,7 USD/tấn, tăng 4,5%.
Mức tăng này phần nào phản ánh xu hướng chuyển dịch sang các dòng chè có giá trị cao hơn, thay vì chủ yếu xuất khẩu chè nguyên liệu. Các sản phẩm chế biến sâu, chè đặc sản, chè ô long, chè ướp hương và chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ đang mở ra hướng gia tăng giá trị cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xu hướng này tạo chuyển biến rõ nét, ngành chè vẫn cần nâng cao chất lượng nguyên liệu, năng lực chế biến và khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026 ghi nhận sự phân hóa rõ nét. Trong khi một số thị trường truyền thống sụt giảm mạnh, xuất khẩu sang Nga, Hoa Kỳ và khu vực Trung Đông có xu hướng tăng, cho thấy dư địa mở rộng thị trường vẫn còn nếu doanh nghiệp đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng và tiêu chuẩn nhập khẩu.
Pakistan, thị trường tiêu thụ chè truyền thống của Việt Nam, chủ yếu nhập khẩu chè đen. Tuy nhiên, trong 8 tháng, xuất khẩu sang thị trường này chỉ đạt 11,9 nghìn tấn, trị giá 23,43 triệu USD, giảm lần lượt 60,8% về lượng và 59,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu được cho là những rào cản tài chính và quy định chứng nhận Halal mới tại thị trường nhập khẩu.
Tại Đài Loan (Trung Quốc), xuất khẩu chè đạt 9,23 nghìn tấn, trị giá 18,88 triệu USD. Dù lượng giảm 0,8%, trị giá vẫn tăng 10,8% so với cùng kỳ, cho thấy giá trị xuất khẩu có thể được cải thiện ngay cả khi sản lượng không tăng. Trong khi đó, xuất khẩu chè sang Trung Quốc giảm cả về lượng và trị giá.
Ở chiều ngược lại, các thị trường Nga, Hoa Kỳ và Trung Đông ghi nhận mức tăng trưởng về lượng và trị giá. Đây là những thị trường có tiềm năng đa dạng hóa đầu ra, song cũng đòi hỏi doanh nghiệp chú trọng hơn đến chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn sản phẩm.
Theo số liệu từ Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), trong 7 tháng năm 2026, Hoa Kỳ nhập khẩu 65,47 nghìn tấn chè, trị giá 396,48 triệu USD, giảm 4,7% về lượng nhưng tăng 12,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá nhập khẩu bình quân đạt 6.055 USD/tấn, tăng 18%.
Việt Nam cung cấp chè đen, chè xanh nguyên liệu cho thị trường Hoa Kỳ, đồng thời từng bước tăng tỷ trọng chè đặc sản và chè đạt chứng nhận hữu cơ. Tuy nhiên, trong 7 tháng, xuất khẩu chè sang thị trường này đạt 3,08 nghìn tấn, trị giá 5,85 triệu USD, giảm 20,4% về lượng và 6,1% về trị giá. Thị phần chè Việt Nam chiếm 4,71% tổng lượng chè nhập khẩu của Hoa Kỳ.
Những tháng cuối năm 2026, xuất khẩu chè được dự báo có thể cải thiện nhờ nhu cầu tiêu thụ theo mùa vụ, đặc biệt trong dịp lễ, Tết tại các thị trường châu Á, Trung Đông và Bắc Mỹ. Giá xuất khẩu bình quân được kỳ vọng duy trì ở mức cao, trong đó chè chế biến sâu, chè đặc sản và sản phẩm mang thương hiệu riêng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc nâng giá trị xuất khẩu.
Trong bối cảnh lượng xuất khẩu còn chịu sức ép, chuyển dịch sang sản phẩm chất lượng cao, đầu tư chế biến sâu và xây dựng thương hiệu sẽ là hướng đi cần thiết để ngành chè Việt Nam nâng sức cạnh tranh, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống và mở rộng dư địa tăng trưởng bền vững.
Huyền My (t/h)Tính đến tháng 9/2026, các công trình phục vụ Tuần lễ Cấp cao APEC 2027 tại Phú Quốc đã định hình rõ nét. Từ sân bay mở rộng, tuyến tàu điện LRT, các trục đường chính đến trung tâm hội nghị và nhà biểu diễn đa năng, đang đồng loạt tăng tốc, bước vào giai đoạn hoàn thiện.