Ngành chè với bài toán nâng cao giá trị gia tăng
Bước sang năm 2026, ngành chè Việt Nam đứng trước yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận nếu không muốn tiếp tục mắc kẹt trong vòng xoáy tăng sản lượng nhưng giá trị thu về còn hạn chế.
Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, tháng 01/2026, Việt Nam xuất khẩu được 12.390 tấn chè, với trị giá 20,88 triệu USD, giảm 10,5% về lượng và giảm 12,6% về trị giá với tháng 12/2025, nhưng so với tháng 01/2025 tăng 28% về lượng và tăng 27% về trị giá do tháng 01/2025 có 5 ngày nghỉ Tết Nguyên đán.
Tháng 01/2026, giá bình quân xuất khẩu chè ở mức 1.686 USD/tấn, giảm 2,29% so với tháng 12/2025 và giảm 0,45% so với tháng 01/2025. Điều này đồng nghĩa với việc khối lượng tăng mạnh nhưng giá bán chưa cải thiện, khiến hiệu quả gia tăng chưa tương xứng.

Ảnh minh họa: Internet
Điểm đáng chú ý là sự dịch chuyển thị trường xuất khẩu đang diễn ra rõ rệt. Xuất khẩu chè sang Nga, Ấn Độ, Ba Lan tăng mạnh và đặc biệt là xuất khẩu sang Philippines ghi nhận mức tăng ba chữ số, tăng 544,7% về lượng và tăng 312,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Tuy nhiên cũng có những thị trường có xu hướng giảm như Pakistan – thị trường từng chiếm tới 35,2% tỷ trọng trong tháng 1/2025 - trong tháng 1/2026 giảm còn 7,5%, với sản lượng 930 tấn, giảm trên 70% so với cùng kỳ.
Sự sụt giảm mạnh tại Pakistan và sự tăng trưởng đột biến ở Philippines phản ánh rõ xu hướng dịch chuyển thị trường. Thay vì phụ thuộc vào một vài bạn hàng truyền thống, doanh nghiệp chè đang chủ động mở rộng sang các thị trường ngách, thị trường mới nổi và phân khúc có yêu cầu chất lượng cao hơn.
Đây cũng là giai đoạn nhiều nước siết chặt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu về trách nhiệm môi trường. Khi các thị trường nâng chuẩn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chứng nhận bền vững, chứng nhận hữu cơ hay phát thải carbon, sản phẩm không đáp ứng tiêu chí gần như không còn "cửa" vào chuỗi phân phối chính thống. Điều này buộc ngành chè phải chuyển mạnh từ tư duy "bán nguyên liệu" sang "bán giá trị".
Theo các chuyên gia, năm 2026 được xem là năm bản lề để ngành chè chuyển từ tăng trưởng "theo chiều rộng" sang "theo chiều sâu". Nếu tận dụng tốt xu hướng dịch chuyển thị trường, đẩy mạnh chuẩn hóa và xây dựng thương hiệu, chè Việt hoàn toàn có thể cải thiện giá xuất khẩu bình quân, thay vì duy trì mức quanh 1.600–1.700 USD/tấn như hiện nay.
Cuộc đua trên thị trường chè quốc tế không còn là cuộc đua về khối lượng. Đó là cuộc đua về chất lượng, về câu chuyện và về khả năng đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu. Khi mỗi búp chè không chỉ là nguyên liệu thô mà là kết tinh của văn hóa, sinh thái và trách nhiệm, giá trị xuất khẩu mới có thể thực sự bứt phá, đưa hình ảnh chè Việt bước ra thế giới với vị thế cao hơn.
Tuy vậy, ngành chè hiện vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn. Chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều giữa các vùng, sản xuất còn manh mún, thiếu tiêu chuẩn hóa, khiến giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng. Ở khâu chế biến, không ít cơ sở vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, khó đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn quốc tế.
Theo các chuyên gia, cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ chế biến theo hướng tự động hóa, số hóa dây chuyền sản xuất. Ứng dụng công nghệ Internet vạn vật trong kiểm soát các công đoạn như làm héo, lên men, diệt men và bảo quản sẽ giúp chuẩn hóa chất lượng và nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Bên cạnh đó, ngành chè cần đa dạng hóa sản phẩm như bạch trà, hồng trà, Phổ Nhĩ… đồng thời tăng cường hợp tác với các chuyên gia chế biến từ Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Nhật Bản để tạo ra sản phẩm chất lượng cao, phù hợp từng phân khúc thị trường.
Việt Nam hiện có khoảng 128 nghìn ha chè, sản lượng chè búp tươi đạt trên 1 triệu tấn mỗi năm, tương đương khoảng 214 nghìn tấn chè khô. Với quy mô này, Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản xuất chè, khẳng định vị thế là một trong những quốc gia cung ứng chè quan trọng trên thị trường toàn cầu.
Quy mô diện tích và sản lượng ổn định là nền tảng quan trọng để tái cơ cấu theo hướng nâng cao chất lượng và phát triển bền vững. Nếu được đầu tư đồng bộ về giống, công nghệ và thương hiệu, ngành chè hoàn toàn có thể chuyển từ lợi thế sản lượng sang lợi thế giá trị trong giai đoạn tới.
Huyền My (t/h)
Nông nghiệp Thanh Hóa mở khóa giá trị xanhTừ những cánh đồng lúa truyền thống đến các vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp Thanh Hóa đang từng bước mở ra một không gian giá trị mới - giá trị carbon. Khi lượng khí nhà kính giảm phát thải được đo đếm, xác thực và quy đổi thành tín chỉ có thể giao dịch, mỗi vụ mùa không chỉ tạo ra sản lượng mà còn hình thành tài sản môi trường. Đây không đơn thuần là đổi mới kỹ thuật canh tác, mà là bước chuyển trong tư duy phát triển - đưa nông nghiệp vào quỹ đạo tăng trưởng bền vững, đa giá trị và hội nhập thị trường carbon toàn cầu.