Ngành xây dựng triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông
Ngành xây dựng đang triển khai nhiều giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, từ tháo gỡ mặt bằng, vật liệu đến tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công. Qua đó, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực kết nối giữa các vùng.
Chiều 20/4, tại phiên thảo luận về kinh tế - xã hội trong khuôn khổ chương trình kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, nhiều đại biểu quan tâm đến đầu tư phát triển hạ tầng giao thông nhằm thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển và giảm chi phí logistics.
Cuối phiên thảo luận, giải trình làm rõ ý kiến đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh nhấn mạnh: Kết luận 18 tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã khẳng định phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông là một trong những động lực để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Thực hiện định hướng này, ngành xây dựng đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông trên cả 5 lĩnh vực.

Phiên thảo luận về kinh tế - xã hội trong khuôn khổ chương trình kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều ngày 20/4. Ảnh: Media Quốc hội.
Với đường bộ, Bộ trưởng cho biết, theo quy hoạch đến năm 2050, cả nước có 43 tuyến cao tốc với tổng chiều dài khoảng 8.993km, trong đó có 6.539km được đầu tư trước năm 2030, còn lại được đầu tư giai đoạn 2030-2050. Tính đến nay, cả nước đã khai thác và thông xe kỹ thuật khoảng 3.345km, trong đó có 458km nút giao.
Về quy mô đầu tư, có 548km cao tốc 2 làn xe (chiếm 16%), 1.559km cao tốc 4 làn xe hạn chế (chiếm 47%) và 1.238km cao tốc 4-6 làn xe hoàn chỉnh (chiếm 37%). Trong đó, Bộ Xây dựng thực hiện 2.561km (chiếm 77%), còn lại do địa phương thực hiện.
Về phương thức đầu tư, có 2.458km được đầu tư công (chiếm 74%) và 860km đầu tư theo hình thức công tư PPP (chiếm 26%).
Bộ trưởng cho biết đang triển khai chuyển tiếp 1.252km, dự kiến hoàn thành vào năm 2027. Trong đó, Bộ Xây dựng thực hiện 153km, các địa phương và Bộ Quốc phòng thực hiện 1.099km...
"Hết năm 2025, mật độ cao tốc trên cả nước đạt khoảng 2,23km/100km2. Đồng bằng sông Cửu Long đạt 4,43km/100km2. Trong khi đó, 14 tỉnh cũ ở biên giới phía Bắc ở mức thấp (0,58 km/100km2)", Bộ trưởng thông tin.
Giai đoạn 2026-2030, dự kiến nguồn lực được tập trung đầu tư, nâng cấp khoảng 1.721km cao tốc, nhu cầu vốn khoảng 802.868 tỷ đồng.
Với hệ thống quốc lộ, Bộ trưởng cho biết, cả nước hiện có 24.376km. Thực hiện chủ trương phân cấp, từ ngày 1/7/2025, Bộ Xây dựng chuyển giao phân cấp 17.520km cho địa phương quản lý. Bộ quản lý 4.875km, chủ yếu là các tuyến BOT và một số dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh.
Về đường bộ ven biển, cả nước đã hoàn thành 1.701km (khoảng 60%), đang triển khai thi công 340km tại 10 tỉnh, thành. Bộ trưởng đề nghị 10 địa phương khẩn trương triển khai hoàn thành trong năm nay.
Ngoài ra, trong giai đoạn 2026-2030, cần tiếp tục đầu tư thêm 772km đường bộ ven biển để hoàn thành đồng bộ toàn tuyến.
Với đường sắt, Bộ trưởng cho biết theo quy hoạch, mạng lưới gồm 25 tuyến với tổng chiều dài 6.658 km, trong đó 7 tuyến hiện hữu dài 2.510km và 18 tuyến xây dựng mới với chiều dài 4.148km.
Hệ thống đường sắt quốc gia cũ chủ yếu khổ 1m, được xây dựng từ thời Pháp; riêng tuyến Hà Nội - Lạng Sơn sử dụng khổ tiêu chuẩn 1.435mm. Tới đây, nước ta tập trung phát triển các tuyến đường sắt quốc gia như: Hà Nội - TPHCM, Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái, TPHCM - Cần Thơ - Cà Mau...
Với đường sắt đô thị, cả nước đã hoàn thành 3 tuyến với tổng chiều dài khoảng 41km (trong đó Hà Nội có 2 tuyến, TPHCM 1 tuyến). Trong đó, Hà Nội hoàn thành xong 1 tuyến còn 1 tuyến mới hoàn thành đoạn trên cao (Nhổn - Văn Cao). Đoạn Văn Cao đến Trần Hưng Đạo dự kiến sẽ hoàn thành trong năm nay.
Trong giai đoạn tới, Hà Nội dự kiến phát triển 18 tuyến với 1.052km, TPHCM đầu tư xây dựng 12 tuyến với 1.172km. Tổng chiều dài khoảng 2.224km/30 tuyến, nhu cầu vốn cần khoảng 743.907 tỷ đồng.
Đối với lĩnh vực hàng không, Bộ trưởng cho hay, theo quy hoạch đến năm 2030 cả nước có 31 cảng hàng không (gồm 15 cảng quốc tế, 16 cảng nội địa), công suất khoảng 294 triệu hành khách/năm; định hướng đến năm 2050 có 34 cảng, công suất khai thác 533 triệu hành khách/năm.
Đến nay, cả nước có 22 cảng hàng không với tổng công suất khoảng 155 triệu hành khách/năm, tăng 1,6 lần so với nhiệm kỳ trước.
Về định hướng phát triển, trong số 31 cảng hàng không theo quy hoạch sẽ có 6 cảng cấp 4F, 1 cảng cấp 4C, các cảng còn lại cấp 4E.
Về đầu tư, Bộ trưởng cho biết, định hướng sẽ giảm tỉ trọng đầu tư công, tập trung các dự án nâng cấp sửa chữa; tăng cường huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là các dự án PPP và đầu tư tư để phát triển cảng hàng không.
Với hàng hải và đường thủy, Bộ trưởng Trần Hồng Minh thông tin, cả nước có 309 bến cảng với tổng chiều dài khoảng 107km, trên 3.200km đường biển (như vậy chiều dài cảng biển mới đạt 0,1%), cùng 44 bến cảng dầu khí ngoài khơi. Năng lực hệ thống cảng đạt khoảng 955 triệu tấn/năm, tăng 1,3 lần so với năm 2020.
Cả nước có 310 cảng thủy nội địa, trong đó có 202 cảng hàng hóa, 11 cảng hành khách, 97 cảng chuyên dùng, 6.332 bến thủy nội địa và 2.562 bến khách ngang sông.
Giai đoạn 2026-2030, Bộ trưởng cho hay sẽ thu hút nguồn vốn tư nhân phát triển hạ tầng cảng biển.
Huyền My (t/h)
Nghi Sơn kích hoạt “lợi thế hạ tầng”: Đòn bẩy chiến lược hút dòng vốn tỷ đôSự đồng bộ và tăng tốc của hạ tầng giao thông tại Khu Kinh tế Nghi Sơn đang tái định vị khu vực này như một “điểm đến đầu tư chiến lược” của Bắc Trung Bộ. Với các dự án kết nối liên vùng được triển khai quyết liệt, cùng hệ sinh thái công nghiệp – cảng biển ngày càng hoàn thiện, Nghi Sơn không chỉ mở rộng biên độ thu hút vốn mà còn nâng cấp năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.