Nghịch lý cấu trúc ngành lọc hóa dầu

Kinh doanh
03:42 PM 30/10/2026

Nghịch lý của ngành lọc hóa dầu Việt Nam là có khả năng khai thác dầu thô và xuất khẩu dầu ra thị trường quốc tế, nhưng trong nước vẫn phải nhập khẩu lượng lớn dầu thô thành phẩm.

Báo cáo nghiên cứu ngành dầu khí Việt Nam mới đây do Guotai Haitong (VN) Research công bố đã chỉ ra một thực tế quan trọng: cấu trúc năng lượng quốc gia hiện nay còn thể hiện mức độ phụ thuộc cao vào các nguồn cung nhập khẩu, đáng kể nhất là khi có đến khoảng 87% tổng lượng dầu thô nhập khẩu có nguồn gốc từ khu vực Trung Đông.

Nghịch lý cấu trúc ngành lọc hóa dầu - Ảnh 1.

Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Ảnh: Kinh tế Môi trường

Sự phụ thuộc này, theo đánh giá của đơn vị nghiên cứu trên, khiến thị trường năng lượng nội địa trở nên nhạy cảm và chịu tác động trực tiếp, rõ rệt từ mọi biến động chính trị - an ninh hay các căng thẳng diễn ra tại khu vực cung cấp. Mặc dù vậy, những giải pháp điều hành chính sách kịp thời, linh hoạt từ phía Chính phủ đã góp phần bảo đảm tính liên tục trong chuỗi cung ứng xăng dầu, tạo điều kiện duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự vận hành ổn định của toàn bộ nền kinh tế.

Các sự kiện đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng trên thế giới trong thời gian gần đây cũng là một bài học sâu sắc, thúc đẩy các quốc gia, trong đó có Việt Nam, phải xem xét lại và điều chỉnh chiến lược an ninh năng lượng theo hướng bền vững, dài hạn. Trên tinh thần đó, Chính phủ đang đẩy mạnh đa dạng hóa quan hệ đối tác chiến lược, với các đối tác trọng điểm như Nhật Bản và Hàn Quốc; đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật và huy động các nguồn lực cần thiết để tăng cường hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác các mỏ dầu, khí trong nước, hướng tới mục tiêu nâng cao mức độ tự chủ trong cung ứng năng lượng.

Thực trạng phát triển ngành lọc hóa dầu Việt Nam hiện nay đang phản ánh một nghịch lý mang tính cấu trúc rõ rệt: nước ta vừa tiến hành khai thác và xuất khẩu dầu thô, đồng thời lại tiếp tục phải nhập khẩu dầu thô làm nguyên liệu và một lượng lớn sản phẩm tinh chế để đáp ứng nhu cầu nội địa. Tình trạng này bắt nguồn từ ba nhóm nguyên nhân cốt lõi sau:

Thứ nhất, về đặc tính kỹ thuật và cơ cấu xuất nhập khẩu dầu thô. Nguồn dầu thô khai thác trong nước chủ yếu thuộc loại dầu ngọt nhẹ, chất lượng cao, hàm lượng lưu huỳnh thấp, rất được ưa chuộng trên thị trường quốc tế. Đây là sản phẩm có giá trị thương mại cao, thường được xuất khẩu để thu về hiệu quả kinh tế tốt nhờ mức giá cao hơn so với dầu Brent. Ngược lại, hệ thống nhà máy lọc hóa dầu trong nước lại đòi hỏi nguồn nguyên liệu dầu thô chua, trung bình hoặc nặng, nên Việt Nam phải nhập khẩu bổ sung từ Kuwait và các thị trường khác để phối trộn và đáp ứng yêu cầu sản xuất.

Thứ hai, về sự khác biệt trong thiết kế công nghệ giữa các cơ sở sản xuất chủ lực. Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn, chiếm khoảng 40% thị phần xăng dầu nội địa, được thiết kế chuyên dụng để chế biến hoàn toàn loại dầu chua, nặng nhập khẩu từ Kuwait, do đó đơn vị này phải nhập khẩu gần như 100% nguyên liệu đầu vào. Trong khi đó, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (BSR) ban đầu được xây dựng với định hướng sử dụng dầu ngọt khai thác tại các mỏ trong nước, nhưng trước tình trạng suy giảm trữ lượng các mỏ cũ, đã phải nâng tỷ lệ nhập khẩu dầu thô nước ngoài lên mức 40-50% để bảo đảm vận hành theo đúng công suất thiết kế.

Thứ ba, về giới hạn công suất sản xuất và áp lực nhập khẩu sản phẩm cuối cùng. Tổng công suất của hai nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu thành phẩm trên toàn quốc. Vì vậy, mỗi năm nước ta vẫn phải chi ra hàng tỷ USD để nhập khẩu khoảng 9-10 triệu tấn sản phẩm tinh chế từ các thị trường như Singapore, Hàn Quốc, Malaysia và Trung Quốc, nhằm bảo đảm cân bằng giữa cung và cầu năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội.

Theo các chuyên gia, việc hoàn thiện chính sách, đa dạng hóa nguồn cung và đẩy mạnh khai thác nội địa trở thành yêu cầu cấp thiết, là chìa khóa giúp Việt Nam vượt qua thách thức phụ thuộc nhập khẩu, xây dựng hệ thống năng lượng vững chắc, tự cường và thích ứng linh hoạt với mọi biến động toàn cầu.

An Mai (t/h)
Ý kiến của bạn
TP.HCM định hình tầm nhìn 100 năm, hướng đến đô thị toàn cầu TP.HCM định hình tầm nhìn 100 năm, hướng đến đô thị toàn cầu

Quy hoạch tổng thể TP.HCM thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm đặt mục tiêu xây dựng Thành phố trở thành đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, sánh ngang các đô thị hàng đầu thế giới. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, thành phố định hướng tổ chức lại không gian phát triển theo mô hình đa cực, đa trung tâm, lấy con người làm trung tâm và khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực.