Nghịch lý của ngành thép trong quý I/2026
Dù ghi nhận những con số tăng trưởng ấn tượng về sản lượng trong đầu năm 2026, ngành thép lại đang rơi vào một trạng thái đầy mâu thuẫn: Doanh thu bùng nổ nhưng lợi nhuận co hẹp, cửa xuất khẩu thu hẹp đẩy các doanh nghiệp vào một cuộc cạnh tranh thị phần ngay trên sân nhà.
Nghịch lý: Sản lượng tăng ấn lượng, lợi nhuận co hẹp
Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) vừa xuất bản báo cáo “Tổng quan thị trường thép Việt Nam quý I/2026”. Bức tranh ngành thép quý đầu tiên của năm 2026 cho thấy một giai đoạn phục hồi rõ nét của ngành sau chu kỳ suy giảm trước đó.
Theo báo cáo, sản xuất thép thô đạt hơn 7,16 triệu tấn, tăng 23,3% so với cùng kỳ, trong khi sản lượng thép thành phẩm cũng tăng 14,4%. Ở phía tiêu thụ, bán hàng thép thành phẩm đạt gần 8,86 triệu tấn, tăng 15,5% . Đây là mức tăng trưởng hiếm thấy trong nhiều năm, phản ánh sự trở lại đồng thời của cả nhu cầu nội địa lẫn một phần xuất khẩu.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Động lực chính đến từ sự phục hồi của lĩnh vực xây dựng - đặc biệt là đầu tư hạ tầng và bất động sản. Thép xây dựng và HRC là hai nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng trưởng nổi bật, trong khi các sản phẩm như tôn mạ vẫn chịu áp lực nhất định từ thị trường quốc tế.
Có thể nói, xét trên phương diện sản lượng, ngành thép đang bước vào một giai đoạn sôi động trở lại, với nhịp tăng trưởng mang tính chu kỳ khá rõ nét.
Tuy nhiên, theo báo cáo của VSA, dù sản lượng và tiêu thụ phục hồi mạnh, biên lợi nhuận của các doanh nghiệp thép lại có xu hướng thu hẹp. Nguyên nhân đến từ áp lực chi phí đầu vào duy trì ở mức cao trong khi giá bán đầu ra không tăng tương ứng.
Ở phía nguyên liệu, giá quặng sắt, than cốc và các đầu vào khác vẫn neo cao và biến động mạnh. Chi phí logistics cũng tăng đáng kể, ước tính trong khoảng 15-30%, tạo thêm áp lực lên giá thành sản xuất . Điều này khiến doanh nghiệp khó mở rộng biên lợi nhuận, ngay cả khi sản lượng tăng.
Trong khi đó, phía đầu ra lại chứng kiến mức độ cạnh tranh gia tăng nhanh chóng. Khi nguồn cung phục hồi mạnh, đặc biệt ở các sản phẩm thép xây dựng và tôn mạ, doanh nghiệp gặp khó trong việc điều chỉnh giá bán. Thị trường nội địa vì vậy xuất hiện dấu hiệu “tăng trưởng về lượng nhưng cạnh tranh về giá”.
“Gọng kìm” phòng vệ thương mại và cửa xuất khẩu hẹp dần
Kênh xuất khẩu - vốn đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ sản lượng dư thừa - cũng không còn thuận lợi như trước. Các biện pháp phòng vệ thương mại gia tăng tại nhiều thị trường khiến dư địa mở rộng xuất khẩu bị thu hẹp, buộc doanh nghiệp phải phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường trong nước.
Sự kết hợp của chi phí cao, cạnh tranh lớn và hạn chế từ thị trường quốc tế đã tạo ra một nghịch lý rõ nét: doanh nghiệp bán được nhiều hơn, nhưng chưa chắc tạo ra nhiều lợi nhuận hơn.
Tương tự, báo cáo cập nhật mới đây của Chứng khoán Mirae Asset cũng đề cập đến kênh xuất khẩu bị hạn chế. Thị trường Mỹ gần như khép lại với thép Việt Nam khi thuế nhập khẩu theo Mục 232 duy trì ở mức 25%, trong khi các rào cản thương mại như chống bán phá giá và chống trợ cấp ngày càng dày đặc. Tại châu Âu, việc siết hạn ngạch, tăng thuế ngoài hạn ngạch và cơ chế CBAM tuy có thể hỗ trợ giá nhưng lại bó hẹp sản lượng xuất khẩu, khi hạn ngạch giảm mạnh so với năm trước.
Trên thị trường, định giá ngành thép đang phân hóa mạnh, phản ánh sự khác biệt về năng lực cạnh tranh và khả năng duy trì lợi nhuận. Đà phục hồi giá sau giai đoạn đáy không còn tác động đồng đều, mà đang sàng lọc rõ nhóm doanh nghiệp có nền tảng tốt.
Ở chiều ngược lại, nhóm tôn mạ đối mặt áp lực lớn hơn khi cạnh tranh nội địa gia tăng, trong khi chi phí đầu vào quay lại xu hướng tăng. Doanh nghiệp buộc phải đánh đổi giữa sản lượng, giá bán và biên lợi nhuận - một bài toán không dễ có lời giải tối ưu.
Đáng chú ý, rủi ro dư cung trong dài hạn đang dần hiện rõ. Làn sóng đầu tư các dự án thép mới trong nước diễn ra đồng thời với triển vọng xuất khẩu kém tích cực, làm gia tăng nguy cơ mất cân đối cung - cầu trong tương lai. Dù vậy, các doanh nghiệp đi trước như HPG vẫn có lợi thế đáng kể về tiến độ và kinh nghiệm vận hành, tạo khoảng đệm để củng cố thị phần trước khi nguồn cung mới thực sự gia nhập thị trường.
Theo nhóm phân tích từ Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS), lợi nhuận toàn ngành thép dự báo tăng trưởng 22% trong năm 2026. Tuy nhiên, sự phân bổ lợi nhuận này sẽ không đồng đều; trong đó, lợi thế lớn nhất thuộc về các doanh nghiệp sở hữu quy mô sản xuất thượng nguồn. Động lực chính cho ngành thép trong giai đoạn tới đến từ thị trường xây dựng và bất động sản.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, đầu tư hạ tầng được xác định là một trong những trụ cột tăng trưởng với quy mô ước tính lên đến 8,5 triệu tỷ đồng (cao hơn nhiều so với kế hoạch 2,87 triệu tỷ đồng và mức thực hiện ước đạt 2 - 2,1 triệu tỷ đồng của giai đoạn 2021 - 2025). Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn này dự kiến tiếp tục ưu tiên các dự án trọng điểm quốc gia. Trong đó, các dự án như cao tốc Bắc - Nam giai đoạn 2 và sân bay Long Thành sẽ đóng vai trò là “đầu kéo” tiêu thụ thép xây dựng, thúc đẩy nhu cầu nội địa tăng từ 5 - 8% trong năm 2026.
Với ngành bất động sản dân dụng, nhiều dự án được tháo gỡ vướng mắc pháp lý (theo Nghị quyết 171/2024/QH15) và bắt đầu khởi công sẽ thúc đẩy nhu cầu sử dụng thép trong vài năm tới. Các dự án có pháp lý sạch đã bắt đầu triển khai mạnh vào cuối năm 2025. Ngoài ra, số lượng dự án nhà ở thương mại được cấp phép cũng tăng mạnh từ quý III/2025 và dự kiến tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới. Điểm rơi tiêu thụ thép cho phân khúc bất động sản dân dụng được dự báo vào giữa năm 2026, khi các dự án bước vào giai đoạn hoàn thiện phần thân.
Dù vậy, VCBS chỉ ra một số thách thức đối với ngành thép trong năm 2026, tiêu biểu là áp lực dư thừa công suất và thép giá rẻ từ Trung Quốc. Ngoài ra, các rào cản kỹ thuật như chứng chỉ CBAM (hàng rào kỹ thuật “xanh” của EU) có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, cùng việc thu hẹp hạn ngạch và siết chặt quy định về xuất xứ đối với thép xuất khẩu đi EU (dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/7/2026) sẽ là những thách thức đáng kể cho ngành thép Việt Nam.
An Mai (t/h)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ, nói chuyện với bà con tại Đền HùngSáng nay 26/4 (tức ngày 10 tháng 3 năm Bính Ngọ), tại Lăng Hùng Vương thuộc Khu di tích lịch sử Quốc gia Đặc biệt Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp gỡ, nói chuyện thân mật với bà con nhân dân tại đây.