Nông, lâm, thủy sản thu về hơn 63 tỷ USD từ xuất khẩu trong 10 tháng
Trong 10 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 63,02 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, mức xuất siêu của toàn ngành đạt khoảng 18,9 tỷ USD, tiếp tục đóng góp tích cực vào cán cân thương mại quốc gia.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, riêng tháng 10/2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 6,93 tỷ USD, tăng 7,9% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này đưa tổng giá trị xuất khẩu 10 tháng lên khoảng 63,02 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ.
Trong cơ cấu xuất khẩu, nông sản tiếp tục là nhóm hàng đóng góp lớn nhất với 32,65 tỷ USD, tăng 3,9%. Lâm sản đạt 16,13 tỷ USD, tăng 7,3%; thủy sản đạt 10,44 tỷ USD, tăng 11,7%. Đáng chú ý, xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 3,15 tỷ USD, tăng 56,4%; sản phẩm chăn nuôi đạt 642,7 triệu USD, tăng 25,1% và muối đạt 12,5 triệu USD, tăng 28,3%.

Ảnh minh họa: Internet
Xét theo khu vực thị trường, châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm 49,7% tổng thị phần. Châu Mỹ chiếm 22,2%, châu Âu chiếm 13,4%, trong khi châu Phi và châu Đại Dương lần lượt chiếm 2,2% và 1,5%.
So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang châu Á tăng 11,8%, châu Mỹ tăng 2,2%, châu Âu tăng 4,4% và châu Đại Dương tăng 13,9%. Riêng châu Phi giảm 14,5%. Ở cấp độ từng quốc gia, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là ba thị trường xuất khẩu lớn nhất, với thị phần tương ứng 25,1%, 19,9% và 7,3%. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 19%, Hoa Kỳ tăng 1% và Nhật Bản tăng 4,8%.
Trong bức tranh xuất khẩu chung, rau quả tiếp tục là một trong những nhóm hàng có kết quả nổi bật. Tháng 10/2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả ước đạt 1,05 tỷ USD, đưa tổng giá trị 10 tháng lên 8,32 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam, chiếm 64,8% tổng kim ngạch. Xuất khẩu sang thị trường này tăng 22,4%; Hoa Kỳ tăng 19,2% và Hàn Quốc tăng 11,1%. Diễn biến này cho thấy nhu cầu tại các thị trường chủ lực vẫn là động lực quan trọng đối với ngành rau quả, dù mức độ tập trung thị trường còn khá lớn.
Thủy sản cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực. Kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đạt 10,44 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ. Trong đó, tôm đạt 4,25 tỷ USD, tăng 9,5%; cá tra đạt 1,85 tỷ USD, tăng 11,5%. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là ba thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất, chiếm tổng cộng 53,5% thị phần. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 34,2%, trong khi Hoa Kỳ tăng 0,5% và Nhật Bản tăng 1,5%.
Đối với gỗ và sản phẩm gỗ, kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đạt 15,02 tỷ USD, tăng 6,9%. Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm 50,2% thị phần, tiếp đến là Trung Quốc và Nhật Bản với tỷ trọng lần lượt 14,9% và 12,6%. Tuy nhiên, xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 4,1%, trong khi Trung Quốc tăng 40,8% và Nhật Bản tăng 6,7%, cho thấy diễn biến trái chiều giữa các thị trường tiêu thụ chủ lực.
Một số mặt hàng khác cũng ghi nhận tăng trưởng về giá trị. Xuất khẩu hạt điều đạt 4,38 tỷ USD, tăng 2,2% dù khối lượng giảm 2%; hạt tiêu đạt 1,58 tỷ USD, tăng 13,1% về giá trị và 17,5% về khối lượng. Xuất khẩu chè đạt 197,4 triệu USD, tăng 4,3% dù lượng xuất khẩu giảm 4,6%.
Bên cạnh những điểm sáng, xuất khẩu một số mặt hàng truyền thống vẫn đối mặt với áp lực khi giá bán giảm hoặc sản lượng xuất khẩu đi xuống. Cà phê là một ví dụ đáng chú ý: trong 10 tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,6 triệu tấn, đạt 7,09 tỷ USD, tăng 18,7% về lượng nhưng giảm 5% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 4.528 USD/tấn, giảm 19,9%.
Diễn biến này cho thấy sản lượng tăng chưa đủ bù đắp mức giảm sâu của giá xuất khẩu. Tại các thị trường tiêu thụ lớn như Đức, Italia và Nhật Bản, giá trị xuất khẩu cà phê đều giảm, lần lượt 7,4%, 0,6% và 1,4%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 53,1%, mở ra thêm dư địa tại thị trường này.
Với cao su, khối lượng xuất khẩu 10 tháng đạt 1,2 triệu tấn, trị giá 2,54 tỷ USD, giảm lần lượt 16,8% và 2,5% so với cùng kỳ. Dù giá xuất khẩu bình quân tăng 17,2%, lên 2.060,5 USD/tấn, mức tăng giá vẫn chưa đủ bù đắp sự sụt giảm về lượng. Đặc biệt, Trung Quốc chiếm 58,6% thị phần nhưng giá trị xuất khẩu sang thị trường này giảm 20,5%. Ngược lại, xuất khẩu sang Ấn Độ tăng 60,3%, còn Indonesia tăng 2,5 lần.
Gạo cũng là mặt hàng ghi nhận xu hướng giảm cả về lượng và giá trị. Trong 10 tháng, xuất khẩu gạo đạt 6,8 triệu tấn, trị giá 3,31 tỷ USD, giảm 4,6% về lượng và 9,7% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt 484 USD/tấn, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 40,2% thị phần. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu sang thị trường này giảm 14,9%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 75,7%, cho thấy thị trường này đang có những chuyển biến tích cực.
Ở chiều nhập khẩu, tháng 10/2026, Việt Nam ước nhập khẩu 4,64 tỷ USD nông, lâm, thủy sản, tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng, kim ngạch nhập khẩu đạt 44,12 tỷ USD, tăng 8,8%. Trong đó, nhập khẩu nông sản đạt 28,09 tỷ USD, tăng 12,8%; sản phẩm chăn nuôi đạt 4,43 tỷ USD, tăng 21,4%; lâm sản đạt 3,1 tỷ USD, tăng 16,7%. Ngược lại, nhập khẩu thủy sản giảm 3,1%, còn 2,65 tỷ USD; đầu vào sản xuất giảm 11,9%, đạt 5,81 tỷ USD.
Như vậy, cán cân thương mại nông, lâm, thủy sản trong 10 tháng đạt thặng dư khoảng 18,91 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản trong tạo nguồn thu ngoại tệ và đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu cả nước.
Huyền My (t/h)
Doanh nghiệp và bài toán “xây dựng thương hiệu đáng tin” để chinh phục khách hàngVới chủ đề “Xây dựng thương hiệu đáng tin: Chinh phục khách hàng, thu hút nhà đầu tư”, Tiến sĩ Đào Cẩm Thủy đã chia sẻ những góc nhìn về vai trò của thương hiệu trong việc tạo dựng niềm tin với khách hàng và đối tác. Qua đó, giúp doanh nghiệp nhận diện tầm quan trọng của chiến lược thương hiệu nhất quán, minh bạch và có sức thuyết phục trong hành trình mở rộng kinh doanh, tìm kiếm cơ hội hợp tác và tiếp cận nguồn vốn đầu tư.