Phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng vùng ĐBSCL: Cơ hội và những vấn đề đặt ra
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 nhằm hình thành thị trường carbon, tài nguyên rừng vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có tiềm năng tạo tín chỉ carbon, góp phần phát triển kinh tế xanh và bền vững. Tuy nhiên, quá trình này còn gặp nhiều khó khăn về thể chế, chính sách, quyền, cơ chế thị trường và năng lực quản lý. Bài viết phân tích tiềm năng, những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế, cơ chế quản lý, phát huy giá trị tín chỉ carbon gắn với bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng ĐBSCL.
Đặt vấn đề
Biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học và yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý và khai thác tài nguyên rừng theo hướng bền vững. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26), Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, đồng thời thúc đẩy hình thành thị trường carbon như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, tài nguyên rừng không chỉ có giá trị về bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp dịch vụ hệ sinh thái mà còn trở thành nguồn lực kinh tế thông qua khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon và tạo lập tín chỉ carbon.
Vùng ĐBSCL sở hữu hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm và đất ngập nước đặc thù, có tiềm năng lớn trong hấp thụ carbon và phát triển các dự án tín chỉ carbon. Tuy nhiên, việc khai thác lợi thế này còn gặp nhiều rào cản do khung pháp lý và cơ chế quản lý chưa đồng bộ, thị trường carbon trong nước đang trong giai đoạn hình thành, cùng với những hạn chế về dữ liệu, liên kết vùng và cơ chế chia sẻ lợi ích. Bài viết tập trung phân tích những cơ hội và các vấn đề đặt ra trong phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng vùng ĐBSCL, qua đó đề xuất các định hướng chính sách nhằm hoàn thiện thể chế, phát huy giá trị tài nguyên rừng và thúc đẩy phát triển bền vững vùng trong bối cảnh chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế.
1. Cơ sở lý luận và chính sách về phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng
Biến đổi khí hậu được xác định là một trong những thách thức lớn nhất đối với phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 1,1°C so với thời kỳ tiền công nghiệp[1], làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và đòi hỏi các quốc gia phải triển khai các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính một cách hiệu quả. Trong bối cảnh đó, nhiều nước đã chuyển từ phương thức quản lý môi trường chủ yếu bằng các biện pháp hành chính sang kết hợp với các công cụ kinh tế, trong đó thị trường carbon được xem là giải pháp quan trọng nhằm nội hóa chi phí phát thải, khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch và thúc đẩy tăng trưởng xanh.
Cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng nhất cho sự hình thành thị trường carbon là Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, được thông qua ngày 12/12/2015 tại Hội nghị lần thứ 21 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21) và có hiệu lực từ ngày 04/11/2016. Khác với Nghị định thư Kyoto, Hiệp định Paris yêu cầu tất cả các quốc gia xây dựng đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và từng bước nâng cao tham vọng giảm phát thải khí nhà kính. Đặc biệt, Điều 6 của Hiệp định đã thiết lập khuôn khổ pháp lý cho hợp tác quốc tế thông qua chuyển giao kết quả giảm phát thải (ITMOs) và phát triển cơ chế tín chỉ carbon, tạo nền tảng cho sự hình thành và vận hành thị trường carbon trên phạm vi toàn cầu.
Tiếp nối tinh thần của Hiệp định Paris, ngày 01/11/2021, tại phiên họp cấp cao COP26 ở Glasgow (Vương quốc Anh), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tuyên bố: Việt Nam cam kết đạt mức phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) vào năm 2050. Cam kết này không chỉ thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn tạo động lực quan trọng để hoàn thiện thể chế, chính sách về giảm phát thải khí nhà kính, phát triển thị trường carbon và thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp.
Ở Việt Nam, phát triển thị trường tín chỉ carbon là quá trình cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, cam kết quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia về tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính và phát triển bền vững. Tại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định phát triển nhanh, bền vững là định hướng xuyên suốt; nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thực hiện chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là cơ sở chính trị quan trọng định hướng việc hoàn thiện chính sách phát triển thị trường carbon gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh.
Trên cơ sở đó, Nhà nước đã từng bước thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật và chính sách cụ thể. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 tạo bước ngoặt quan trọng khi lần đầu tiên quy định về tổ chức và phát triển thị trường các-bon tại Điều 139. Theo đó, thị trường các-bon trong nước bao gồm hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon từ các cơ chế trong nước, quốc tế; đồng thời giao Chính phủ quy định lộ trình triển khai và tổ chức vận hành thị trường. Quy định này đánh dấu sự chuyển biến từ quản lý phát thải chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính sang áp dụng công cụ kinh tế theo cơ chế thị trường.
Để triển khai Luật, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, quy định kiểm kê khí nhà kính, hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon và lộ trình hình thành thị trường carbon trong nước. Tiếp đó, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường. Đặc biệt, Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, xác định lộ trình thí điểm đến hết năm 2028 và vận hành chính thức từ năm 2029, coi thị trường carbon là công cụ huy động nguồn lực tài chính cho giảm phát thải, tăng trưởng xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Đối với vùng ĐBSCL, Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về "Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu" đã xác lập quan điểm phát triển "thuận thiên", coi thích ứng với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ hệ sinh thái là yêu cầu trọng tâm. Trên nền tảng đó, phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là khu vực tập trung các hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm và đất ngập nước có khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon lớn nhờ sinh khối thực vật phong phú, hệ rễ phát triển và điều kiện ngập nước làm chậm quá trình phân hủy chất hữu cơ. Đồng thời, vùng cũng chịu tác động nặng nề của nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển và suy giảm đa dạng sinh học. Vì vậy, phát triển thị trường tín chỉ carbon không chỉ tạo nguồn lực tài chính cho bảo vệ, phục hồi rừng mà còn góp phần nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn hệ sinh thái, cải thiện sinh kế cộng đồng và thúc đẩy phát triển bền vững vùng ĐBSCL.
2. Cơ hội phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng vùng đồng bằng sông Cửu Long
Thứ nhất, lợi thế về tài nguyên rừng và khả năng hấp thụ carbon
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và phát triển nền kinh tế carbon thấp, vùng ĐBSCL có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng. Những lợi thế này không chỉ đến từ đặc điểm của hệ sinh thái rừng mà còn được hỗ trợ bởi hệ thống chủ trương, chính sách và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng để khai thác hiệu quả giá trị carbon của rừng.
Thứ nhất, lợi thế về tài nguyên rừng và khả năng hấp thụ carbon
Mặc dù tỷ lệ che phủ rừng chỉ đạt 5,40%[2], toàn vùng hiện có khoảng 242.258 ha rừng, gồm 79.103 ha rừng tự nhiên và 163.155 ha rừng trồng, phân bố chủ yếu tại Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long[3]. Trong đó, rừng ngập mặn và rừng tràm là hai hệ sinh thái có khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon cao, tạo nguồn cung tín chỉ carbon quan trọng. Theo nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp với Cục Lâm nghiệp (nay thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường), rừng ngập mặn Việt Nam lưu giữ trung bình khoảng 245 tấn carbon/ha, trong đó 71% lượng carbon được tích lũy trong đất và 29% trong sinh khối thực vật[4]. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết cả nước hiện có khoảng 168.741 ha rừng ngập mặn, với trữ lượng khoảng 8,7 triệu tấn carbon và khả năng lưu giữ từ 68-250 tấn/ha[5].
Riêng vùng ĐBSCL tập trung khoảng 62% diện tích rừng ngập mặn của cả nước, chủ yếu tại Cà Mau, An Giang, thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long[6], tạo lợi thế nổi bật để phát triển các dự án blue carbon (carbon xanh). Bên cạnh đó, các hệ sinh thái rừng tràm tại Vườn quốc gia U Minh Hạ, U Minh Thượng, Tràm Chim và các khu rừng trên đất than bùn có khả năng lưu giữ carbon dài hạn, đồng thời tạo điều kiện hình thành các dự án tín chỉ carbon quy mô vùng, góp phần thu hút đầu tư và tạo nguồn lực tài chính cho bảo vệ, phục hồi rừng.
Thứ hai, lợi thế về chính sách
Bên cạnh tiềm năng tài nguyên, ĐBSCL còn được hưởng lợi từ hệ thống chủ trương, chính sách và pháp luật ngày càng đồng bộ về tăng trưởng xanh và phát triển thị trường carbon. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững là định hướng xuyên suốt trong giai đoạn mới. Đồng thời, Đảng nhấn mạnh yêu cầu "Hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách quy hoạch về quản lý tổng hợp, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia. Chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái"[7].
Đối với vùng ĐBSCL, Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ và Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 về Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định định hướng phát triển theo hướng "thuận thiên", bảo tồn hệ sinh thái, phục hồi rừng ngập mặn và sử dụng bền vững tài nguyên. Đồng thời, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Quyết định số 232/QĐ-TTg năm 2025 đã từng bước hoàn thiện cơ chế vận hành thị trường carbon trong nước.
Tuy nhiên, theo khảo sát của nhóm tác giả, chủ trương, chính sách dù đã được đánh giá tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, chính sách. Qua khảo sát điều tra xã hội học đối với 183 cán bộ quản lý nhà nước tại An Giang, Cà Mau, Đồng Tháp và Vĩnh Long cho thấy 47,5% đánh giá hệ thống quy định tương đối đầy đủ; tỷ lệ cho rằng còn chồng chéo dưới 10%; 79,2% cho rằng chính sách được phổ biến kịp thời; 75,4% đánh giá đúng đối tượng thụ hưởng; 73,2% nhận định các mô hình sinh kế góp phần nâng cao thu nhập và 76,0% cho rằng chính sách đã góp phần giảm khai thác rừng trái phép[8].
Thứ ba, lợi thế về thị trường
Cùng với quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế carbon thấp, thị trường carbon toàn cầu đang phát triển nhanh, tạo cơ hội lớn cho tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng vùng ĐBSCL. Tín chỉ carbon ngày càng trở thành hàng hóa môi trường có giá trị, được giao dịch trên cả thị trường bắt buộc và thị trường tự nguyện. Động lực quan trọng xuất phát từ các quy định mới của thương mại quốc tế, đặc biệt là Quy định (EU) 2023/956 của Liên minh châu Âu về Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), buộc nhiều ngành hàng xuất khẩu phải kiểm kê và giảm phát thải khí nhà kính. Điều này làm gia tăng nhu cầu đối với tín chỉ carbon nhằm bù đắp phát thải, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đồng thời, xu hướng đầu tư theo các tiêu chí Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) đang thúc đẩy các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và doanh nghiệp ưu tiên các dự án gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi rừng, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế cộng đồng. Với lợi thế về hệ sinh thái rừng ngập mặn và rừng tràm có khả năng hấp thụ carbon cao, ĐBSCL có điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn vốn xanh, tài chính khí hậu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị carbon trong nước cũng như quốc tế.

Rừng U Minh Thượng, tỉnh An Giang. Nguồn: Tác giả chụp, tháng 01/2026.
Thứ tư, lợi thế về sinh kế
Một trong những lợi thế nổi bật của vùng là mối quan hệ gắn bó giữa cộng đồng địa phương với tài nguyên rừng. Rừng ngập mặn và rừng tràm không chỉ có vai trò phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học mà còn tạo sinh kế thông qua các mô hình tôm - rừng, nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng, khai thác lâm sản ngoài gỗ, du lịch sinh thái và dịch vụ môi trường rừng. Qua khảo sát 200 hộ gia đình tại An Giang, Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long cho thấy 23,7% số hộ thuộc diện nghèo; trong khi 50% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm sản gắn với rừng và 10% trực tiếp sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp dựa vào tài nguyên rừng.
Thực tiễn tại Cà Mau, An Giang và Vĩnh Long cũng cho thấy các mô hình tôm - rừng, giao khoán bảo vệ rừng và đồng quản lý tài nguyên rừng đã góp phần hài hòa giữa bảo tồn hệ sinh thái với phát triển kinh tế. Khi được kết hợp với cơ chế chia sẻ lợi ích từ tín chỉ carbon, các mô hình này sẽ tạo thêm nguồn thu ổn định cho người dân, giảm áp lực khai thác tài nguyên và khuyến khích cộng đồng tham gia lâu dài vào bảo vệ, phục hồi rừng.
Nhìn chung, sự hội tụ của các lợi thế về tài nguyên rừng, thể chế, thị trường và sinh kế đã tạo tiền đề thuận lợi để ĐBSCL phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng. Tuy nhiên, việc chuyển hóa các lợi thế này thành giá trị kinh tế và động lực phát triển bền vững vẫn phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý, xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), cũng như tăng cường sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế. Đây cũng là những vấn đề cần tiếp tục được nhận diện để đề xuất các giải pháp phát triển thị trường tín chỉ carbon hiệu quả trong thời gian tới.
3. Những vấn đề đặt ra trong phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng vùng đồng bằng sông Cửu Long
Thứ nhất, khung pháp luật về thị trường tín chỉ carbon tuy đã được hình thành nhưng chưa hoàn thiện đối với lĩnh vực lâm nghiệp
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 lần đầu tiên quy định việc tổ chức và phát triển thị trường carbon trong nước; tiếp đó, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Quyết định số 232/QĐ-TTg năm 2025 đã bước đầu thiết lập cơ chế kiểm kê khí nhà kính, hệ thống MRV và lộ trình phát triển thị trường carbon. Tuy nhiên, các quy định hiện hành chủ yếu mới tạo khung pháp lý chung, trong khi nhiều nội dung đặc thù của tín chỉ carbon rừng như điều kiện tạo lập tín chỉ, quy trình đăng ký dự án, tiêu chuẩn chứng nhận, quản lý doanh thu và trách nhiệm của các chủ thể vẫn chưa được hướng dẫn đầy đủ. Qua khảo sát cho thấy chỉ 47,5% cán bộ đánh giá hệ thống pháp luật hiện hành tương đối đầy đủ, trong khi vẫn còn ý kiến cho rằng các quy định còn chồng chéo và thiếu tính thống nhất[9]. Điều này cho thấy yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế để chuyển tiềm năng hấp thụ carbon của rừng thành hàng hóa có giá trị pháp lý và giá trị thương mại.
Thứ hai, quyền sở hữu, cơ chế định giá và giao dịch tín chỉ carbon chưa được xác lập rõ ràng
Tín chỉ carbon chỉ có thể giao dịch khi xác định được chủ thể có quyền tạo lập, sở hữu, chuyển nhượng và hưởng lợi. Tuy nhiên, đối với rừng, quyền này liên quan đồng thời đến Nhà nước, chủ rừng, ban quản lý rừng, doanh nghiệp, hộ gia đình và cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng. Hiện nay, pháp luật chưa quy định cụ thể cơ chế phân định quyền và lợi ích giữa các chủ thể này, đồng thời chưa hình thành cơ chế định giá thống nhất đối với tín chỉ carbon rừng. Trong khi Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ xác định phát triển thị trường carbon theo cơ chế thị trường, vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về phương thức định giá, đấu giá hay giao dịch trên sàn. Đây là khoảng trống thể chế có thể làm giảm tính minh bạch của thị trường và ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư.
Thứ ba, hệ thống MRV và cơ sở dữ liệu carbon rừng còn nhiều hạn chế
Nghị định số 06/2022/NĐ-CP đã đặt nền móng cho hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định khí nhà kính, nhưng việc áp dụng đối với rừng ngập mặn và rừng tràm ở ĐBSCL vẫn gặp nhiều khó khăn do phải đánh giá đồng thời carbon trong sinh khối, đất, than bùn và trầm tích. Bên cạnh đó, dữ liệu về hiện trạng rừng, trữ lượng carbon, đất đai, thủy sản và chủ rừng hiện còn phân tán giữa nhiều ngành và địa phương, thiếu tính liên thông và cập nhật. Điều này làm gia tăng chi phí xây dựng dự án, kéo dài thời gian kiểm chứng và ảnh hưởng đến khả năng công nhận tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế.
Thứ tư, liên kết vùng và năng lực tổ chức thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường carbon quy mô lớn.
Mặc dù Nghị quyết số 120/NQ-CP năm 2017 và Quyết định số 287/QĐ-TTg năm 2022 đều nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết vùng, nhưng việc quản lý rừng hiện nay vẫn chủ yếu theo địa giới hành chính. Mỗi địa phương có quy hoạch, cơ sở dữ liệu và cơ chế quản lý riêng, trong khi rừng ngập mặn và rừng tràm có tính liên thông sinh thái rất cao. Việc triển khai các dự án riêng lẻ làm tăng chi phí MRV, chứng nhận và giao dịch, đồng thời hạn chế khả năng thu hút các nhà đầu tư lớn và nâng cao giá trị tín chỉ carbon.
Thứ năm, cơ chế chia sẻ lợi ích chưa đủ rõ để tạo động lực cho cộng đồng tham gia bảo vệ rừng
Đặc điểm của ĐBSCL là phần lớn diện tích rừng được quản lý thông qua các mô hình tôm - rừng, giao khoán bảo vệ rừng và đồng quản lý cộng đồng, trong đó người dân vừa là chủ thể hưởng lợi vừa là lực lượng trực tiếp bảo vệ rừng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể nguyên tắc phân chia nguồn thu từ tín chỉ carbon giữa Nhà nước, chủ rừng, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương. Kết quả khảo sát cho thấy 73,2% cán bộ đánh giá các chính sách hỗ trợ sinh kế đã góp phần nâng cao thu nhập và 76,0% cho rằng các chính sách này giúp giảm phụ thuộc vào khai thác rừng trái phép[10].
Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng nhận thấy quá trình triển khai chính sách hỗ trợ sinh kế cũng còn nhiều khó khăn, như 54,3% ý kiến cho rằng thiếu nguồn kinh phí, 44% cho rằng thủ tục xét duyệt còn phức tạp và 44% đánh giá cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa hiệu quả[11]. Điều đó cho thấy, nếu không xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch, ổn định và gắn quyền lợi với trách nhiệm bảo vệ rừng thì tín chỉ carbon khó trở thành động lực kinh tế lâu dài đối với cộng đồng địa phương.
5. Định hướng chính sách phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng vùng đồng bằng sông Cửu Long
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản lý thị trường tín chỉ carbon
Đây là giải pháp có tính nền tảng nhằm khắc phục những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Quyết định số 232/QĐ-TTg năm 2025, cần tiếp tục rà soát, bổ sung các quy định chuyên ngành về tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng. Quốc hội cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Lâm nghiệp theo hướng ghi nhận giá trị carbon là một loại dịch vụ hệ sinh thái rừng; Chính phủ hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về quyền sở hữu, quyền giao dịch, cơ chế định giá và phân phối nguồn thu từ tín chỉ carbon; Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành quy chuẩn kỹ thuật về xác định lượng carbon đối với rừng ngập mặn, rừng tràm và đất than bùn, bảo đảm thống nhất với các tiêu chuẩn quốc tế.

Rừng ngập mặn tại tỉnh Cà Mau. Nguồn: Tác giả chụp, tháng 01/2026.
Thứ hai, xây dựng thị trường carbon minh bạch gắn với chuyển đổi số và cơ sở dữ liệu thống nhất
Sự minh bạch của thị trường phụ thuộc trước hết vào chất lượng của hệ thống dữ liệu và cơ chế giám sát. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần xây dựng cơ sở dữ liệu carbon rừng quốc gia, kết nối với hệ thống kiểm kê rừng, cơ sở dữ liệu đất đai và kiểm kê khí nhà kính; đồng thời chuẩn hóa hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV). Đối với vùng ĐBSCL, các địa phương cụ thể Tỉnh ủy, Thành ủy chỉ đạo các đơn vị chức năng xây dựng bản đồ số về tài nguyên carbon rừng, ứng dụng GIS, viễn thám, ảnh vệ tinh, UAV và trí tuệ nhân tạo để theo dõi diễn biến rừng, lượng carbon hấp thụ và phục vụ giao dịch tín chỉ carbon. Song song đó, cần từng bước hình thành hệ thống đăng ký, lưu ký và giao dịch tín chỉ carbon theo đúng lộ trình của Đề án phát triển thị trường carbon quốc gia.
Thứ ba, tăng cường huy động nguồn lực xã hội và phát triển các chủ thể của thị trường carbon
Phát triển tín chỉ carbon đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, trong khi ngân sách nhà nước còn hạn chế. Vì vậy, cần đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP), khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các dự án phục hồi rừng ngập mặn, rừng tràm và phát triển hệ thống MRV. Bộ Tài chính cần nghiên cứu cơ chế ưu đãi về tín dụng xanh, thuế và chia sẻ rủi ro đối với các dự án carbon rừng. Đồng thời, cần chuyển doanh nghiệp từ vai trò người mua tín chỉ carbon sang nhà đầu tư phát triển dự án carbon, gắn với các yêu cầu của CBAM, ESG và mục tiêu Net Zero.
Thứ tư, bảo đảm cơ chế chia sẻ lợi ích và phát huy vai trò của cộng đồng địa phương
Phát triển thị trường tín chỉ carbon chỉ bền vững khi lợi ích kinh tế được phân phối công bằng giữa Nhà nước, chủ rừng, doanh nghiệp và cộng đồng. UBND các tỉnh/thành cần ban hành quy chế chia sẻ lợi ích từ tín chỉ carbon, xác định rõ quyền, trách nhiệm và tỷ lệ phân bổ nguồn thu của từng chủ thể. Việc phân chia lợi ích phải gắn với kết quả bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng, tạo động lực để người dân tham gia quản lý tài nguyên. Đồng thời, cần ưu tiên phát triển các mô hình tôm - rừng, nuôi thủy sản dưới tán rừng, du lịch sinh thái cộng đồng và hợp tác xã lâm nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập, giảm phụ thuộc vào khai thác rừng và củng cố sinh kế bền vững.
Thứ năm, tăng cường liên kết vùng và mở rộng hợp tác quốc tế
Do rừng ngập mặn và rừng tràm của ĐBSCL có tính liên kết sinh thái cao, việc phát triển thị trường carbon cần được tiếp cận theo quy mô vùng thay vì từng địa phương riêng lẻ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần chủ trì xây dựng cơ chế điều phối liên vùng, thống nhất quy hoạch, cơ sở dữ liệu và danh mục các dự án ưu tiên; Hội đồng điều phối vùng ĐBSCL cần lồng ghép phát triển thị trường carbon vào chiến lược phát triển vùng. Đồng thời, cần mở rộng hợp tác với FAO, UNDP, World Bank, JICA, WWF, CIFOR-ICRAF và các quỹ khí hậu quốc tế; chủ động tham gia các cơ chế theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, REDD+ và các hệ thống chứng nhận quốc tế nhằm nâng cao giá trị thương mại của tín chỉ carbon, thu hút nguồn vốn xanh và đưa thị trường tín chỉ carbon của vùng từng bước hội nhập với thị trường quốc tế.
Kết luận
Phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng là xu hướng tất yếu trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" của Việt Nam. Với lợi thế về hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm có khả năng hấp thụ carbon cao, cùng sự hoàn thiện từng bước của hệ thống chủ trương, chính sách và nhu cầu ngày càng gia tăng của thị trường carbon trong nước và quốc tế, vùng ĐBSCL có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường tín chỉ carbon từ tài nguyên rừng. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa tiềm năng này vẫn đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp luật, cơ chế quản trị, hệ thống dữ liệu, liên kết vùng và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, chủ rừng và cộng đồng. Chỉ khi giải quyết đồng bộ các vấn đề thể chế và tổ chức thực hiện, thị trường tín chỉ carbon mới thực sự trở thành công cụ huy động nguồn lực cho bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng, góp phần nâng cao sinh kế người dân, thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong thời gian tới./.
-----------------------------------------------------------------------
[1] Báo cáo Tổng hợp Đánh giá lần thứ sáu (AR6 Synthesis Report) của Intergovernmental Panel on Climate Change công bố năm 2023. ↑
[2] Quyết định số 561/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2024. ↑
[3] Trước ngày 01/7/2025 là các tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng và An Giang ↑
[4] Báo Nhân dân ((10/01/2026) : Tín chỉ carbon khai thác từ hệ sinh thái rừng ngập mặn. https://en.nhandan.vn, truy cập ngày 15/2/2026. ↑
[5] Báo Nhân dân ((10/01/2026) : Tín chỉ carbon khai thác từ hệ sinh thái rừng ngập mặn. https://en.nhandan.vn, truy cập ngày 15/2/2026. ↑
[6] Trước ngày 01/7/2025 là các tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng ↑
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQG Sự thật, HN, tập 1, tr.110-111. ↑
]7] TS. Nguyễn Văn Vỹ (2026), Quản lý, khai thác tài nguyên rừng trong phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị khu vực IV. ↑
[8] TS. Nguyễn Văn Vỹ (2026): Quản lý, khai thác tài nguyên rừng trong phát triển bền vững vùng đồng bằng sông cửu long hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị khu vực IV. ↑
[9] TS. Nguyễn Văn Vỹ (2026): Quản lý, khai thác tài nguyên rừng trong phát triển bền vững vùng đồng bằng sông cửu long hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị khu vực IV. ↑
[10] TS. Nguyễn Văn Vỹ (2026): Quản lý, khai thác tài nguyên rừng trong phát triển bền vững vùng đồng bằng sông cửu long hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị khu vực IV. ↑
An Giang đón trên 19,2 triệu lượt du khách trong 7 tháng đầu năm 2026Ngày 14/8, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang tổ chức giao ban báo chí định kỳ tháng 8 năm 2026.