Sản xuất thép thô tăng 28% sau 7 tháng
7 tháng đầu năm 2026, sản xuất thép thô của Việt Nam đạt 17,92 triệu tấn, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thép thành phẩm cũng tăng hơn 15%, trong khi tiêu thụ cải thiện, cho thấy đà phục hồi của thị trường.
Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), trong 7 tháng đầu năm 2026, sản xuất thép thô cả nước đạt 17,92 triệu tấn, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng này cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và toàn ngành công nghiệp.
Đối với thép thành phẩm, sản lượng sản xuất đạt 21,4 triệu tấn, tăng 15,4% so với cùng kỳ. Sản lượng tiêu thụ đạt 21,186 triệu tấn, tăng 15,6%.
Diễn biến giữa các phân khúc có sự khác biệt. Thép xây dựng và thép cuộn cán nóng (HRC) ghi nhận kết quả tích cực, trong khi sản xuất tôn mạ giảm 13,5% và thép cán nguội giảm 10,2%. Điều này cho thấy nhu cầu thị trường và khả năng cạnh tranh đang phân hóa giữa các nhóm sản phẩm.

Ảnh minh họa: Internet
Đáng chú ý, riêng tháng 7, sản lượng thép thành phẩm đạt khoảng 3,1 triệu tấn, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng bán hàng đạt 3,2 triệu tấn, tăng 24,2%. Việc tiêu thụ tăng nhanh hơn sản xuất cho thấy sức mua trên thị trường có dấu hiệu cải thiện, tạo thêm động lực cho doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất.
Hoạt động xuất nhập khẩu thép tiếp tục duy trì quy mô lớn. Trong 7 tháng, Việt Nam ước nhập khẩu khoảng 9 triệu tấn thép các loại, trị giá hơn 6,68 tỷ USD, tăng 4% về lượng và 7,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Ở chiều xuất khẩu, thép thành phẩm đạt khoảng 6,69 triệu tấn, trị giá 4,54 tỷ USD, tăng lần lượt 4,2% về lượng và 7,4% về giá trị.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ngành thép trong 7 tháng ước đạt 11,2 tỷ USD, tương đương khoảng 2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Tuy nhiên, cán cân thương mại vẫn ghi nhận nhập siêu khoảng 2,35 triệu tấn, tương đương 2,13 tỷ USD.
ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu thép lớn nhất của Việt Nam, chiếm 31,33%. Tiếp đến là EU với 17,5%, Hoa Kỳ 13,64%, Brazil 8,14% và Ấn Độ 6,18%.
Theo Hiệp hội Thép Thế giới (WSA), trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam sản xuất khoảng 15,2 triệu tấn thép thô, tăng 26,9% so với cùng kỳ và tiếp tục nằm trong nhóm 10 quốc gia sản xuất thép lớn nhất thế giới. Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam cao hơn đáng kể so với diễn biến chung của ngành thép toàn cầu.
Dù kết quả sản xuất và tiêu thụ đang tạo tín hiệu tích cực, VSA cho rằng ngành thép vẫn đứng trước nhiều sức ép trong thời gian tới. Tình trạng dư thừa công suất trên thị trường toàn cầu đang thúc đẩy nhiều quốc gia gia tăng các biện pháp bảo hộ, tạo thêm rào cản đối với hoạt động xuất khẩu.
Cùng với đó, yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao đang trở thành một yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của ngành. Cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam và việc Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU được triển khai đặt doanh nghiệp trước yêu cầu đầu tư công nghệ, sử dụng năng lượng hiệu quả và kiểm soát phát thải trong quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó, sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu, nhiên liệu nhập khẩu vẫn là một yếu tố ảnh hưởng đến chi phí và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Với đà tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ trong 7 tháng, ngành thép đang có nền tảng thuận lợi để duy trì phục hồi. Tuy nhiên, để tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp sẽ phải đồng thời mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động thích ứng với những yêu cầu ngày càng khắt khe của thương mại quốc tế và chuyển đổi xanh.
Huyền My (t/h)Chuyển đổi số đang mở ra một không gian mới cho chương trình OCOP, không chỉ giúp sản phẩm địa phương được nhận diện rộng rãi hơn mà còn từng bước thay đổi phương thức quảng bá, kết nối thị trường và tiếp cận người tiêu dùng. Việc Thanh Hóa đưa dữ liệu sản phẩm OCOP lên ứng dụng công dân số là bước tiến cụ thể trong quá trình hình thành hệ sinh thái số cho sản phẩm đặc trưng, tạo nền tảng để nâng cao giá trị thương hiệu và sức cạnh tranh của OCOP xứ Thanh.