Tháng 7, Việt Nam nhập khẩu 27.686 ô tô nguyên chiếc

Xuất nhập khẩu
04:23 PM 21/08/2026

Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu gần 150.000 ô tô nguyên chiếc, tăng 22,4% về lượng và 30,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Indonesia tiếp tục là nguồn cung lớn nhất về số lượng, trong khi Trung Quốc đang gia tăng nhanh và đứng đầu về giá trị kim ngạch.

Theo số liệu của Cục Hải quan, riêng tháng 7/2026, Việt Nam nhập khẩu 27.686 ô tô nguyên chiếc các loại, trị giá 597,25 triệu USD. So với tháng 6, lượng xe tăng 8,1%, trong khi kim ngạch tăng 3,1%; so với cùng kỳ năm 2025, lượng xe tăng tới 47,6% và trị giá tăng 40,8%.

Giá nhập khẩu bình quân trong tháng 7 đạt khoảng 21.572 USD/xe, giảm 4,61% so với tháng 6 và thấp hơn 4,59% so với cùng kỳ năm ngoái.

Lũy kế 7 tháng, cả nước nhập khẩu 148.696 ô tô nguyên chiếc, tổng trị giá 3,46 tỷ USD, tăng 22,4% về lượng và 30,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá trị nhập khẩu bình quân trong 7 tháng đạt 23.241 USD/xe (khoảng 607 triệu đồng), tăng 6,41% so với cùng kỳ năm trước.

Gần 150.000 ô tô nhập khẩu vào Việt Nam sau 7 tháng - Ảnh 1.

Ảnh minh họa: Internet

Đáng chú ý, khu vực ASEAN tiếp tục giữ vị trí nguồn cung lớn nhất. Trong 7 tháng, Việt Nam nhập khẩu 101.936 xe từ khu vực này, trị giá 1,71 tỷ USD, tăng 16,81% về lượng và 16,77% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ trọng thị phần của ASEAN chiếm 68,55% tổng lượng ô tô nhập khẩu của Việt Nam trong 7 tháng (thu hẹp so với mức 71,83% của 7 tháng đầu năm 2025).

Trong các thị trường ASEAN, Indonesia tiếp tục là nguồn cung lớn nhất cho thị trường ô tô Việt Nam. Trong tháng 7, Việt Nam nhập khẩu 12.137 xe từ Indonesia, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng tới 96,7% so với cùng kỳ.

Tính chung 7 tháng, lượng xe nhập từ Indonesia đạt 61.855 chiếc, trị giá 876,27 triệu USD, tăng 36,6% về lượng và 35,9% về trị giá. Riêng xe Indonesia chiếm 41,6% tổng lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu của Việt Nam, tăng đáng kể so với mức 37,27% cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, Thái Lan đứng thứ hai trong ASEAN với 40.081 xe nhập khẩu trong 7 tháng, trị giá 836,23 triệu USD. Lượng xe giảm 4,5% nhưng trị giá vẫn tăng 1,77% so với cùng kỳ, cho thấy giá trị bình quân của xe nhập từ thị trường này có xu hướng tăng.

Nếu Indonesia dẫn đầu về số lượng thì Trung Quốc đang nổi lên về tốc độ tăng trưởng và giá trị kim ngạch.

Trong tháng 7, Việt Nam nhập khẩu 5.091 ô tô từ Trung Quốc, trị giá 168,15 triệu USD, giảm 10,67% về lượng và giảm 21,17% về trị giá so với tháng 6/2026; so với tháng 7/2025 tăng 16,61% về lượng và 21,67% về trị giá.

Tính chung 7 tháng, Việt Nam nhập khẩu 39.697 ô tô từ Trung Quốc, trị giá 1,41 tỷ USD, tăng 45,8% về lượng và tới 60,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc chiếm khoảng 26,7% tổng lượng xe nhập khẩu vào Việt Nam, tăng mạnh so với mức 22,41% của cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, dù đứng thứ ba về lượng nhập khẩu, Trung Quốc lại đứng đầu về giá trị kim ngạch trong số các nguồn cung ô tô lớn của Việt Nam. Điều này phản ánh cơ cấu xe nhập từ thị trường này có tỷ trọng đáng kể ở các dòng xe có giá trị cao hơn.

Bên cạnh các thị trường chủ lực, nhập khẩu ô tô từ Ấn Độ cũng ghi nhận mức tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, mức tăng rất cao chủ yếu xuất phát từ nền so sánh thấp của năm 2025 nên chưa phản ánh đầy đủ sự thay đổi về quy mô nguồn cung.

Diễn biến nhập khẩu 7 tháng cho thấy thị trường ô tô Việt Nam đang tiếp tục mở rộng nguồn cung từ nhiều quốc gia. ASEAN vẫn giữ vai trò chủ đạo nhờ lợi thế về chuỗi cung ứng và các cam kết thương mại, trong đó Indonesia ngày càng củng cố vị trí dẫn đầu.

Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của xe nhập từ Trung Quốc đang nhanh hơn đáng kể so với mức tăng chung của thị trường. Nếu xu hướng này tiếp tục, cạnh tranh giữa các nguồn xe nhập khẩu, đặc biệt ở những phân khúc có mức giá và trang bị tương đồng, sẽ ngày càng rõ nét trong những tháng cuối năm.

Huyền My (t/h)
Ý kiến của bạn
Từ sản xuất xanh đến kinh tế nông nghiệp xanh Từ sản xuất xanh đến kinh tế nông nghiệp xanh

Trong bối cảnh thị trường ngày càng coi trọng tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và sản xuất phát thải thấp, phát triển nông nghiệp xanh không còn là lựa chọn mang tính xu hướng mà đang trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị, sức cạnh tranh và khả năng thích ứng của nông nghiệp Thanh Hóa. Quan trọng hơn, chuyển đổi xanh phải tạo ra giá trị thực, đưa người nông dân từ vị trí thực hiện sang chủ thể và người hưởng lợi.