Thanh Hóa: Khi đồng vốn trở thành đòn bẩy phát triển sinh kế
Với người nông dân, vốn không chỉ là điều kiện để bắt đầu sản xuất, mà còn là nguồn lực để thay đổi cách làm, nâng giá trị sản phẩm và mở rộng sinh kế. Khi đồng vốn được đưa đúng người, đúng nhu cầu, đi cùng khoa học - kỹ thuật, tổ chức sản xuất và thị trường, một khoản vay có thể tạo ra giá trị lớn hơn nhiều lần số tiền ban đầu; giúp người dân không chỉ ổn định cuộc sống, mà từng bước nâng thu nhập, cải thiện chất lượng sống và làm giàu ngay trên quê hương mình.
Trong nông nghiệp, đất đai, lao động và kinh nghiệm chưa đủ để tạo nên một mô hình hiệu quả nếu thiếu nguồn lực đầu tư. Không ít hộ có điều kiện sản xuất nhưng không thể mở rộng quy mô, ứng dụng công nghệ hay chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang hàng hóa chỉ vì thiếu vốn. Bởi vậy, tạo điều kiện để nông dân tiếp cận nguồn vốn phù hợp chính là khơi thông một nguồn lực phát triển từ trong dân.

Ông Hoàng Trọng Đức (thứ hai từ phải sang) giới thiệu sản phẩm mật ong từ mô hình nuôi ong lấy mật gắn với trồng rừng.
Thực tế ở Thanh Hóa cho thấy, khi đồng vốn được trao đúng địa chỉ, nó không chỉ tạo thêm thu nhập mà còn làm thay đổi tư duy sản xuất.
Tại xã Nguyệt Ấn, từ phương thức trồng trọt, chăn nuôi truyền thống, gia đình anh Bùi Văn Biên đã đầu tư 3.200m² nhà lưới trồng dưa vàng, kết hợp chăn nuôi lợn trên diện tích khoảng 3ha theo hướng khép kín. Mô hình hiện đạt doanh thu khoảng 2 tỷ đồng/năm, đồng thời tạo việc làm cho lao động địa phương.
Điều đáng nói không nằm ở con số doanh thu, mà ở cách đồng vốn mở ra một phương thức sản xuất mới: chủ động đầu tư, ứng dụng kỹ thuật, tận dụng phụ phẩm, giảm chi phí và hướng sản xuất tới thị trường. Từ chỗ làm nông dựa nhiều vào kinh nghiệm, người dân từng bước chuyển sang làm kinh tế nông nghiệp có tính toán.
Ở xã Nga An, gia đình ông Hà Thịnh Hưng lại cho thấy một hướng khác của đồng vốn: đầu tư công nghệ để nâng giá trị sản xuất. Với 4.000m² nhà màng trồng dưa vàng, hệ thống tưới nhỏ giọt được điều khiển tự động bằng điện thoại thông minh, mô hình sản xuất luân canh 3 vụ/năm, cho gần 50 tấn dưa thương phẩm, lợi nhuận khoảng 200 triệu đồng/năm sau khi trừ chi phí.

Hội Nông dân tỉnh thăm mô hình trồng dưa trong nhà lưới của anh Bùi Văn Biên, xã Nguyệt Ấn.
Như vậy, giá trị của vốn không dừng ở việc giúp người dân "có tiền để làm", mà nằm ở khả năng tạo ra năng lực sản xuất mới. Vốn được chuyển hóa thành công nghệ, kỹ thuật, năng suất và giá trị gia tăng.
Một khoản vay khác lại mở ra sinh kế dựa trên lợi thế tự nhiên của địa phương. Từ khoản vay 1 tỷ đồng của Agribank, ông Hoàng Trọng Đức ở xã Lương Sơn đầu tư 20ha rừng keo, kết hợp nuôi khoảng 200 đàn ong dưới tán rừng. Mỗi năm, mô hình cho hơn 1 tấn mật ong, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng, đồng thời tạo sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái rừng.
Ba câu chuyện, ba cách làm nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: đồng vốn chỉ thực sự có giá trị khi biến thành sinh kế, thu nhập và năng lực phát triển lâu dài của người dân. Vì thế, hiệu quả của nguồn vốn không nên chỉ được tính bằng số tiền đã giải ngân, mà phải được đo bằng những gì nó tạo ra sau giải ngân: việc làm, thu nhập, tài sản sản xuất, mô hình kinh tế và sức lan tỏa trong cộng đồng.
Đây cũng là lý do hỗ trợ vốn không thể dừng ở việc "đưa tiền cho vay". Có vốn nhưng thiếu kiến thức thì khó đạt hiệu quả; có kỹ thuật nhưng thiếu thị trường thì khó tiêu thụ; có sản phẩm nhưng thiếu liên kết thì khó hình thành sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Đồng vốn muốn trở thành đòn bẩy phải được đặt trong một chuỗi hỗ trợ từ vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất đến thị trường.
Thực tế, đến ngày 30/6/2026, Hội Nông dân các cấp trong tỉnh đang quản lý dư nợ hơn 16.972 tỷ đồng thông qua 4.784 tổ tiết kiệm và vay vốn. Riêng 6 tháng đầu năm, Hội Nông dân tỉnh đã giải ngân hơn 8,1 tỷ đồng cho 16 dự án, giúp 89 hộ có thêm nguồn lực mở rộng sản xuất; đồng thời cung ứng gần 29.430 tấn phân bón và hơn 1.230 gói chế phẩm xử lý rơm rạ theo hình thức trả chậm, hỗ trợ 109 mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi giá trị.
Đằng sau những con số ấy là một cách tiếp cận cần được tiếp tục củng cố: từ hỗ trợ vốn sang đồng hành cùng người dân sử dụng vốn hiệu quả. Nguồn vốn cần đến đúng đối tượng, đúng nhu cầu, đồng thời được gắn với tư vấn phương án sản xuất, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, đào tạo nghề, chuyển đổi số, phát triển hợp tác xã và kết nối thị trường. Khi đó, người nông dân không chỉ được hỏi "cần vay bao nhiêu", mà quan trọng hơn là được hỗ trợ trả lời "vay để làm gì, làm thế nào và tạo ra giá trị gì".
Trong quá trình chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, đây chính là điểm cần được nhìn nhận sâu hơn. Trao vốn không phải là trao một khoản tiền; trao vốn đúng cách là trao thêm cơ hội để người dân tự chủ sinh kế. Một hộ có thêm nguồn lực có thể thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sản xuất nhỏ; nhiều hộ cùng thay đổi có thể hình thành vùng sản xuất hàng hóa; những mô hình hiệu quả có thể tạo việc làm, thúc đẩy dịch vụ và lan tỏa động lực phát triển ở nông thôn.
Một đồng vốn đúng chỗ có thể thay đổi một gia đình. Nhiều đồng vốn được sử dụng hiệu quả có thể tạo nên sức bật cho cả một cộng đồng. Vì thế, mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho nông dân không chỉ là giải bài toán sinh kế trước mắt, mà là đầu tư vào năng lực tự vươn lên của người dân. Khi người nông dân có vốn để sản xuất, có kiến thức để làm đúng, có thị trường để bán hàng và có thu nhập để nâng cao chất lượng sống, đồng vốn ấy sẽ không chỉ giúp người dân đứng vững, mà còn trở thành nguồn lực góp phần dựng xây quê hương Thanh Hóa ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Yến Hoàng
Bắc Ninh: Để di sản trở thành nguồn lực phát triển trong đời sống hôm nayYêu cầu bảo tồn di sản hiện nay không chỉ dừng ở việc gìn giữ ký ức. Với Bắc Ninh, vùng đất Kinh Bắc giàu truyền thống, văn hóa đang cần được đặt trong dòng chảy phát triển mới: sống trong cộng đồng, tạo sinh kế, thúc đẩy sáng tạo và lan tỏa bằng những phương thức hiện đại.