Thị trường F&B tăng trưởng nhưng phân hóa mạnh

Kinh doanh
08:44 AM 10/09/2026

Doanh thu ngành F&B Việt Nam tiếp tục tăng trong nửa đầu năm 2026, song bức tranh phía sau con số tăng trưởng lại cho thấy sự phân hóa rõ nét. Khi gần một nửa số cơ sở kinh doanh ghi nhận doanh thu giảm, thị trường đang bước vào giai đoạn cạnh tranh và sàng lọc mới.

Báo cáo thị trường Kinh doanh Ẩm thực Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 do iPOS.vn và Nestlé Professional công bố cho thấy, doanh thu toàn ngành F&B ước đạt 432.700 tỷ đồng, tăng 6,55% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là tín hiệu tích cực trong bối cảnh thị trường tiêu dùng vẫn chịu tác động của chi phí và sự thay đổi trong hành vi chi tiêu.

Tuy nhiên, mức tăng trưởng của toàn ngành không đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cùng hưởng lợi. Trái lại, thị trường đang cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ nét giữa những mô hình duy trì được đà tăng trưởng và những cơ sở đang gặp khó khăn trong việc giữ khách, kiểm soát chi phí và tạo doanh thu.

Thị trường F&B tăng trưởng nhưng phân hóa mạnh- Ảnh 1.

Thị trường F&B tăng trưởng nhưng phân hóa mạnh. Ảnh: TBTCVN

Khảo sát 481 đơn vị F&B tại 15 tỉnh, thành cho thấy chỉ 20,22% cơ sở ghi nhận doanh thu tăng trên 5% so với cùng kỳ. Trong khi đó, 37,08% duy trì trạng thái tương đối ổn định, với doanh thu tăng hoặc giảm dưới 5%.

Ở chiều ngược lại, 27,53% cơ sở có doanh thu giảm từ 5-20%, trong khi 15,17% giảm trên 20%. Như vậy, tổng cộng 42,7% cơ sở được khảo sát ghi nhận doanh thu sụt giảm, cao gần gấp đôi tỷ lệ các cơ sở đạt mức tăng trưởng trên 5%. Những con số này cho thấy thị trường F&B không rơi vào một cuộc suy giảm đồng loạt, nhưng cũng không còn duy trì trạng thái tăng trưởng rộng khắp. Sự cạnh tranh đang tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa các mô hình kinh doanh.

Một điểm đáng chú ý là dù doanh thu toàn ngành tăng, số lượng cửa hàng lại gần như không thay đổi. Tính đến hết tháng 6/2026, cả nước có khoảng 329.200 cửa hàng dịch vụ ăn uống, giảm nhẹ 0,1% so với mức 329.500 cửa hàng vào cuối năm 2025.

Điều này cho thấy tăng trưởng của thị trường đang dần chuyển từ mở rộng số lượng điểm bán sang nâng cao hiệu quả của các cửa hàng hiện hữu. Khả năng giữ chân khách hàng, kiểm soát chi phí, tổ chức vận hành và tối ưu doanh thu trên từng điểm bán đang trở thành những yếu tố quan trọng hơn.

Sự khác biệt cũng thể hiện khá rõ giữa lĩnh vực kinh doanh đồ ăn và đồ uống. Theo khảo sát, có 25,63% mô hình đồ ăn ghi nhận mức tăng trưởng trên 5%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ 15,82% của các mô hình đồ uống.

Trong khi đó, 41,33% cơ sở kinh doanh đồ uống duy trì trạng thái doanh thu tương đối ổn định. Điều này cho thấy nhóm đồ uống đang chịu áp lực cạnh tranh lớn hơn trong việc gia tăng giá trị đơn hàng và giữ chân khách hàng.

Các mô hình kinh doanh đồ ăn có lợi thế nhất định khi gắn với nhu cầu thiết yếu về bữa ăn, khách hàng đi theo nhóm hoặc khả năng xây dựng các combo sản phẩm. Với đồ uống, mức độ cạnh tranh lại diễn ra trực tiếp hơn ở giá bán và giá trị của từng đơn hàng.

Trong bối cảnh chi phí sinh hoạt và giá cả tiêu dùng gia tăng, xu hướng lựa chọn các sản phẩm có mức giá phù hợp đang tạo thêm sức ép đối với doanh nghiệp F&B.

Có tới 88,49% cơ sở được khảo sát cho biết đã trực tiếp nhận thấy sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh giá rẻ trong khu vực hoạt động. Tuy nhiên, không phải tất cả doanh nghiệp đều lựa chọn tham gia vào cuộc cạnh tranh giảm giá.

Theo khảo sát, 35,39% cơ sở vẫn giữ nguyên cách thức kinh doanh, dù chấp nhận nguy cơ mất một phần khách hàng. Khoảng 30,28% cho rằng các mô hình giá rẻ chưa tạo ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh doanh của mình. Chỉ 22,81% cơ sở lựa chọn hạ giá, tăng khuyến mại hoặc bổ sung các sản phẩm có mức giá thấp hơn.

Điều đó cho thấy sức ép từ phân khúc giá rẻ là có thật, song thị trường chưa hình thành một cuộc đua giảm giá trên diện rộng. Thay vì đồng loạt cạnh tranh bằng giá, nhiều cơ sở vẫn lựa chọn duy trì định vị sản phẩm và tìm cách giữ khách bằng chất lượng, trải nghiệm hoặc những lợi thế riêng.

Báo cáo cũng cho thấy khách hàng trực tiếp đến cửa hàng vẫn giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng của ngành. Có 43,02% cơ sở cho biết khách ngồi tại chỗ là kênh tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ. Đặt hàng qua ứng dụng giao đồ ăn đứng thứ hai với 18,52%, trong khi khách mua mang đi tại quầy chiếm 16,24%.

Nếu tính cả khách ngồi tại chỗ và khách mua mang đi, tỷ trọng hai hình thức khách hàng trực tiếp lên tới 59,26%. Điều này cho thấy dù các nền tảng giao đồ ăn ngày càng phổ biến, cửa hàng vật lý vẫn là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của nhiều mô hình F&B.

Trong 6 tháng cuối năm, thị trường F&B được kỳ vọng có thêm động lực từ mùa cao điểm tiêu dùng, bắt đầu từ dịp Giáng sinh, Tết Dương lịch và giai đoạn chuẩn bị cho Tết Nguyên đán. Theo khảo sát, 52,01% doanh nghiệp F&B cho biết có kế hoạch mở thêm cửa hàng hoặc mở rộng quy mô kinh doanh, dù tỷ lệ này đã giảm so với mức 57,31% được ghi nhận trước đó.

Con số trên cho thấy niềm tin vào cơ hội tăng trưởng vẫn hiện hữu, nhưng doanh nghiệp cũng đang thận trọng hơn trong các quyết định mở rộng.

Thị trường F&B vì thế đang đứng trước một giai đoạn phát triển có tính chọn lọc cao hơn. Tăng trưởng doanh thu của toàn ngành vẫn là tín hiệu tích cực, song phía sau đó là sự phân hóa ngày càng rõ giữa các doanh nghiệp.

Những mô hình có khả năng kiểm soát chi phí, thích ứng với nhu cầu tiêu dùng và xây dựng được lợi thế riêng sẽ có thêm cơ hội mở rộng. Ngược lại, các cơ sở kinh doanh phụ thuộc vào việc giảm giá hoặc thiếu năng lực vận hành có thể tiếp tục đối mặt với sức ép.

Huyền My (t/h)
Ý kiến của bạn
Hoa Sen Home và Hội Marketing Việt Nam mở hướng hợp tác từ thương hiệu, nhân lực đến hệ sinh thái Hoa Sen Home và Hội Marketing Việt Nam mở hướng hợp tác từ thương hiệu, nhân lực đến hệ sinh thái

Ngày 9/9/2026, tại TP.HCM, Hội Marketing Việt Nam có buổi tham quan showroom Hoa Sen Home An Khánh và trao đổi với lãnh đạo, đội ngũ doanh nghiệp Hoa Sen Home về định hướng phát triển cũng như cơ hội hợp tác trong thời gian tới. Từ câu chuyện xây dựng thương hiệu, phát triển hệ sinh thái, đào tạo nhân lực đến kết nối doanh nghiệp với các trường đại học và cộng đồng marketing, hai bên cùng nhận diện nhiều dư địa để hình thành một chương trình đồng hành dài hạn, thực chất.