Tranh Đông Hồ: Thưởng ngoạn hồn tranh Tết giữa nhịp sống hiện đại
Mỗi độ Tết đến, xuân về, trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt, tranh Đông Hồ không chỉ là vật trang trí mà còn là biểu tượng tinh thần, gửi gắm ước vọng an lành, sung túc cho năm mới. Giữa những biến động của đời sống hiện đại, dòng tranh dân gian 500 năm tuổi ấy vẫn được gìn giữ bằng sự bền bỉ, lặng thầm của những nghệ nhân còn nặng lòng với nghề.
Làng Đông Hồ (nay thuộc khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) từ lâu đã gắn với hình ảnh giấy điệp óng ánh, mùi màu tự nhiên phảng phất và tiếng vỗ nhẹ của bàn in mộc bản. Nơi đây từng là không gian nhộn nhịp mỗi dịp cuối năm, khi cả làng cùng tất bật in tranh Tết, mang sắc xuân lan tỏa khắp miền Kinh Bắc.
Ký ức làng tranh trong nhịp Tết xưa

Các ván in màu và nét của bức "Đàn lợn âm dương". Ảnh: Cục di sản văn hóa
Giữa không gian trầm lắng của làng nghề hôm nay, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả - một trong những nghệ nhân cuối cùng còn gắn bó trọn đời với tranh Đông Hồ - vẫn ngày ngày ngồi bên bàn in cũ. Mái tóc đã bạc theo năm tháng, đôi tay chai sạm vẫn nâng niu từng bản khắc gỗ, căn chỉnh từng lớp màu trên nền giấy điệp với sự cẩn trọng của người coi nghề như máu thịt.
Sinh ra trong gia đình nhiều đời làm tranh, ký ức tuổi thơ của ông Quả gắn liền với những mùa Tết rộn ràng. Khi đó, phên giấy điệp dựng kín sân, ván khắc được mang ra hong nắng, trẻ con chạy quanh, người lớn thay nhau pha màu, in tranh. Cả làng sống cùng nhịp tranh Tết, coi đó vừa là sinh kế, vừa là niềm tự hào.
Tranh Đông Hồ xưa không chỉ để treo chơi. Mỗi bức tranh là một lời chúc đầu năm: "Đàn lợn âm dương" cầu mong no đủ, "Gà đại cát" gửi gắm ước vọng phúc lành, "Đám cưới chuột" châm biếm xã hội bằng lối kể hóm hỉnh, sâu cay. Chính những hình tượng bình dị ấy đã nuôi dưỡng thẩm mỹ dân gian, tạo nên một phần hồn cốt của Tết Việt suốt nhiều thế hệ.

Các màu sắc trong tranh Đông Hồ đều được chiết xuất từ nguyên liệu tự nhiên.
Bản sắc không thể trộn lẫn của tranh Đông Hồ
Theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả, điều làm nên sự khác biệt của tranh Đông Hồ trước hết nằm ở chất liệu. Giấy dó được quét điệp - thứ bột vỏ sò, vỏ điệp giã mịn - tạo độ óng ánh nhẹ, giúp bề mặt tranh vừa bền, vừa bắt màu. Màu sắc hoàn toàn từ thiên nhiên: đỏ từ sỏi son, xanh từ lá trà, vàng từ hoa hòe, trắng từ điệp, đen từ tro rơm và lá tre.
Đặc biệt, kỹ thuật in của tranh Đông Hồ đi ngược với nhiều dòng tranh khác: in màu trước, in nét sau. Các lớp màu chồng lên nhau theo quy luật riêng: trắng đè đỏ, vàng đè xanh, tạo nên hiệu ứng giao thoa hài hòa, không lẫn với tranh Hàng Trống, Kim Hoàng hay tranh Huế. Mỗi tờ tranh là kết quả của "mắt nghề" và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều đời.
Ở tuổi ngoài 60, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả vẫn kiên trì giữ phương pháp cổ truyền, tuyệt đối không dùng phẩm màu công nghiệp. Mỗi bức tranh được in thủ công, chậm rãi, đòi hỏi sự kiên nhẫn và cảm nhận tinh tế - điều mà máy móc hiện đại khó có thể thay thế.
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ ra đời cách đây khoảng 500 năm, gắn với tập tục treo tranh vào các dịp lễ Tết như Tết Nguyên đán, Tết Trung thu, thờ cúng tổ tiên và thờ thần. Ngày 8/12/2025, tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 của UNESCO diễn ra ở Pháo đài Đỏ (New Delhi, Ấn Độ), nghề làm tranh Đông Hồ chính thức được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là di sản thứ 17 của Việt Nam được UNESCO công nhận.
Với nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả, niềm vui đi cùng nỗi trăn trở. Ông đau đáu với bài toán giữ nghề trong bối cảnh nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, người trẻ khó sống bằng nghề. Gỗ thị để khắc ván, cây dó làm giấy, điệp làm màu đều chịu tác động của đô thị hóa, trong khi việc khai thác không còn dễ dàng như trước.
Nhiều năm qua, ông dành thời gian nghiên cứu, chỉnh lý hệ thống chữ Hán - Nôm trên tranh Đông Hồ. Theo ông, hiểu đúng chữ nghĩa, điển tích mới giữ được "hồn tranh". Đây là công việc thầm lặng nhưng mang ý nghĩa lâu dài đối với việc bảo tồn giá trị nguyên bản của dòng tranh.

Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả.
May mắn với ông, người con trai cả - anh Nguyễn Hữu Đạo (sinh năm 1990) - đã nối nghề, trở thành nghệ nhân trẻ, cùng cha gìn giữ di sản. Không chỉ sản xuất tranh, gia đình ông còn tham gia triển lãm, hội thảo, đón sinh viên, nhà nghiên cứu đến tìm hiểu, thực hành nghề.
Tiếng nói từ người dân - hồn tranh trong đời sống hôm nay
Bên cạnh nỗ lực của nghệ nhân, tranh Đông Hồ vẫn sống trong ký ức và tình cảm của người dân.
Bà Nguyễn Thị Bích (65 tuổi, phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh) chia sẻ: "Ngày xưa, nhà nào Tết cũng treo ít nhất một bức tranh Đông Hồ. Nhìn đàn lợn, con gà là thấy Tết về. Bây giờ ít nhà treo, nhưng mỗi lần thấy tranh là tôi lại nhớ không khí Tết xưa, ấm áp và yên bình".

Bà Nguyễn Thị Bích (65 tuổi, phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh)
Với thế hệ trẻ, tranh Đông Hồ mang giá trị khám phá văn hóa. Anh Trần Minh Đức (32 tuổi, du khách Hà Nội) cho biết: "Tôi biết đến tranh Đông Hồ qua các triển lãm và mạng xã hội. Khi tận mắt xem nghệ nhân in tranh, tôi mới hiểu vì sao tranh này được UNESCO công nhận. Đó không chỉ là tranh, mà là cả một câu chuyện văn hóa".
Còn chị Phạm Thị Hương (giáo viên mỹ thuật, Bắc Ninh) bày tỏ: "Tranh Đông Hồ rất phù hợp đưa vào giáo dục mỹ thuật cho học sinh. Qua tranh, các em hiểu thêm về Tết, về làng quê, về cách người xưa gửi gắm ước vọng cuộc sống".
Theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả, để tranh Đông Hồ tồn tại bền vững, cần giải bài toán tổng thể từ nguồn nguyên liệu, đào tạo nghệ nhân đến đầu ra sản phẩm. Người trẻ muốn theo nghề phải có thu nhập ổn định; nếu tranh vẫn bán rẻ, thị trường bấp bênh thì khó giữ chân lớp kế cận.
Ông mong muốn Nhà nước tiếp tục có chính sách hỗ trợ cụ thể, từ quy hoạch vùng nguyên liệu, hỗ trợ đào tạo, đến quảng bá, kết nối thị trường. Khi tranh Đông Hồ được bảo tồn và phát triển đúng chuẩn, dòng tranh này hoàn toàn có thể thích ứng với đời sống đương đại, trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng của Bắc Ninh.
Giữa nhịp sống hiện đại, hình ảnh người nghệ nhân lặng lẽ bên ván khắc cũ kỹ vẫn là điểm tựa cho một di sản nửa thiên niên kỷ. Tranh Đông Hồ - với sắc màu tự nhiên, với hồn Tết dân gian - vẫn đang chờ được thưởng ngoạn, gìn giữ và tiếp nối, để không chỉ sống trong ký ức, mà tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay và mai sau.
Phan AnhNgày 10/1, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về đề xuất xây dựng Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm gắn với hoàn thiện thể chế đáp ứng yêu cầu phát triển; dự kiến mô hình phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số.