Việt Nam phấn đấu có 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược
Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua việc chủ trì hoặc tham gia thực hiện các nhiệm vụ của chương trình.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026 phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, với mục tiêu tạo đột phá trong nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và phát triển các sản phẩm công nghệ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Theo chương trình, trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ ít nhất 4 công nghệ chiến lược thuộc danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành; phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế. Các sản phẩm này hướng tới tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Chương trình cũng đặt mục tiêu phát triển ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua việc chủ trì hoặc tham gia thực hiện các nhiệm vụ của chương trình. Trong số này, tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Ở giai đoạn 2031 - 2035, các mục tiêu tiếp tục được nâng lên với việc làm chủ 6 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa ít nhất 25 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có 15 sản phẩm vươn ra thị trường khu vực hoặc quốc tế. Đồng thời, chương trình hướng tới xây dựng 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược, với ít nhất 10 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Chương trình được triển khai trên 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách; nghiên cứu và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược; thúc đẩy thương mại hóa và mở rộng thị trường; phát triển nguồn nhân lực gắn với hợp tác quốc tế; cùng với công tác theo dõi, đánh giá và điều phối thực hiện.
Trong đó, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm được xác định là một trụ cột của chương trình. Theo định hướng, các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước sẽ được khuyến khích ưu tiên đặt hàng, mua sắm, thuê và sử dụng các sản phẩm công nghệ chiến lược được phát triển trong khuôn khổ chương trình, trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật. Đây được kỳ vọng sẽ tạo lực cầu ban đầu, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp đưa sản phẩm công nghệ "Make in Vietnam" ra thị trường.
Song song với đó, chương trình khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ chiến lược, đặc biệt là doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị, mở rộng hợp tác với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu và các cơ sở giáo dục đại học. Mục tiêu là hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng cường nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao công nghệ, qua đó phát triển chuỗi liên kết bền vững cho các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Một điểm mới đáng chú ý là yêu cầu gắn nghiên cứu với đầu ra ngay từ giai đoạn xây dựng nhiệm vụ. Theo đó, mỗi nhiệm vụ nghiên cứu phải xác định rõ đơn vị tiếp nhận, thử nghiệm, ứng dụng hoặc thương mại hóa kết quả. Trường hợp chưa có đơn vị tiếp nhận, nhiệm vụ bắt buộc phải kèm theo phương án phát triển thị trường và thương mại hóa sản phẩm sau khi hoàn thành. Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ thu hẹp khoảng cách giữa hoạt động nghiên cứu và nhu cầu của thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ.
Ở khía cạnh phát triển nguồn nhân lực, chương trình đặt mục tiêu thu hút và xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao thông qua các chính sách tuyển chọn và đãi ngộ dành cho tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc cùng lực lượng kỹ sư, chuyên gia trực tiếp tham gia các nhiệm vụ trọng điểm.
Đồng thời, mạng lưới chuyên gia công nghệ chiến lược sẽ được xây dựng và cập nhật trên nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, tạo cơ sở dữ liệu phục vụ tuyển chọn chuyên gia, thành viên hội đồng tư vấn cũng như đội ngũ nhân sự chủ chốt cho các dự án chiến lược.
Minh An (t/h)
Ngành tôm đối mặt sức ép cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường quốc tếSau 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt gần 2,78 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong tháng 7 đã chậm lại đáng kể khi ngành tôm đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ Ecuador và những bất lợi về thuế tại thị trường Mỹ.