Xuất khẩu cao su giảm 7,9% về lượng và giảm 4,3% về trị giá
Cục Xuất nhập khẩu dẫn báo cáo Cục Hải quan cho biết xuất khẩu cao su của Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức trong nửa đầu năm 2026 khi lượng và kim ngạch đều giảm so với cùng kỳ năm trước.
Theo thông tin từ Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 6/2026 ước đạt 110 nghìn tấn, trị giá 237 triệu USD, tăng mạnh so với tháng trước nhưng vẫn giảm 23,4% về lượng và giảm 0,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm, xuất khẩu cao su ước đạt 639 nghìn tấn, trị giá 1,23 tỷ USD, giảm 7,9% về lượng và giảm 4,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Diễn biến này cho thấy xuất khẩu cao su chưa thoát khỏi xu hướng giảm tốc về sản lượng, nhưng mức giảm về trị giá thấp hơn mức giảm về lượng phản ánh vai trò nâng đỡ của giá trong bối cảnh thị trường thế giới biến động mạnh.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Cục Xuất nhập khẩu nhận định, giá cao su kỳ hạn duy trì đà tăng trong những phiên đầu tháng nhưng điều chỉnh giảm vào cuối tháng 6 do kỳ vọng nguồn cung dồi dào hơn khi các nước sản xuất chủ chốt tại Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam bước vào giai đoạn sản lượng tăng sau mùa thay lá. Bên cạnh đó, sản lượng cao su tổng hợp tăng và giá dầu thế giới giảm cũng tạo thêm áp lực lên cao su tự nhiên, do chi phí sản xuất vật liệu thay thế thấp hơn.
Trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, nhóm hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp mã HS 400280 vẫn giữ vị trí lớn nhất. Trong 5 tháng đầu năm 2026, chủng loại này đạt 312.096 tấn, trị giá 565,07 triệu USD, giảm 8% về lượng và giảm 8,7% về trị giá so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, tỷ trọng của nhóm hàng HS 400280 trong tổng lượng cao su xuất khẩu đã giảm từ 61,4% xuống còn 58,5%, phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu cũng như nhu cầu tiêu thụ của thị trường.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá cao su duy trì ở mức cao, khiến các doanh nghiệp tại Trung Quốc - thị trường tiêu thụ khoảng 95% lượng hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp của Việt Nam - có xu hướng thận trọng hơn trong hoạt động nhập khẩu. Do phụ thuộc lớn vào thị trường này, mọi biến động về nhu cầu đều tác động trực tiếp đến kết quả xuất khẩu của ngành cao su Việt Nam.
Đứng thứ hai về khối lượng xuất khẩu là cao su Latex, đạt 68.257 tấn, trị giá 95,44 triệu USD, tăng nhẹ 0,1% về lượng nhưng giảm 3,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Với các chủng loại khác, xuất khẩu cao su SVR 10 đạt 35.911 tấn, giảm 1,2%; SVR 3L đạt 33.256 tấn, giảm 20,7%. Trong khi đó, xuất khẩu cao su SVR CV60 đạt 25.294 tấn, tăng 10,4%. Đáng chú ý, xuất khẩu cao su hỗn hợp (HS 4005) ghi nhận mức tăng trưởng đột biến tới 1.094% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy nhu cầu đối với dòng sản phẩm này đang gia tăng mạnh.
Về giá, mặc dù mặt bằng giá bình quân xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, nhưng xu hướng phục hồi đã trở nên rõ nét hơn trong những tháng gần đây.
Riêng trong tháng 5/2026, giá xuất khẩu bình quân của hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp (HS 400280) đạt 2.061 USD/tấn, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Giá cao su Latex đạt 1.590 USD/tấn, tăng 21,9%, trong khi cao su SVR 3L đạt 2.308 USD/tấn, tăng 15,3%.
Từ những diễn biến trên, triển vọng xuất khẩu cao su Việt Nam trong nửa cuối năm có thể nhìn theo hai lớp. Trong ngắn hạn, giá thế giới, nhu cầu từ thị trường lớn Trung Quốc, sự phục hồi của ngành lốp xe... sẽ quyết định nhịp tăng trưởng.
Về trung hạn, khả năng mở rộng thị trường, giảm phụ thuộc vào một đầu ra lớn, phát triển sản phẩm chế biến sâu và đáp ứng tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc sẽ quyết định vị thế của cao su Việt Nam trong chuỗi cung ứng.
Huyền My (t/h)
9 trung tâm đô thị lớn trong quy hoạch Hà Nội 100 nămSự hình thành 9 trung tâm đô thị lớn được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng để Thủ đô chuyển từ mô hình “một trung tâm - nhiều khu vực phụ thuộc” sang cấu trúc “nhiều cực phát triển”, trong đó mỗi khu vực đóng vai trò riêng nhưng cùng bổ trợ để tạo nên một Hà Nội phát triển bền vững.